Thứ Sáu, 21 tháng 7, 2017

HOÀNG HẬU Samdach Bhagavati Brhat..., NÀNG LÀ AI?

*Nam Tiến
Tranh vẽ người Quảng Nam trong tác phẩm Boxer codex- 1590.

Theo thư tịch cổ thì vùng đất nam bộ ngày nay, xưa kia vốn là đất Chân Lạp.

Chính Sử:
Đại nam thực lục- tiền biên của quốc sử quán thấy truyện về Chân Lạp bắt đầu được chép từ năm 1658:

- Tháng 9 năm mậu tuất (1658) vua nước Chân Lạp (vốn tên là Cao Miên) là Nặc Ông Chân xâm lấn biên thùy. Dinh Trấn Biên báo lên, Chúa sai Phó tướng Trấn Biên là Tôn Thất Yến, Cai đội là Xuân Thắng, Tham mưu là Minh Lộc (2 người đều không rõ họ) đem 3.000 quân đến thành Hưng Phước (bấy giờ gọi là Mỗi Xuy, nay thuộc huyện Phước Chính, tỉnh Biên Hòa) đánh phá được, bắt Nặc Ông Chân đưa về. Chúa tha tội cho và sai hộ tống về nước, khiến làm phiên thần, hàng năm nộp cống.

Ngoại Sử:
Biên niên sử của Cao Miên chép về vùng đất này vào thời kỳ ấy có nhiều sự kiện hơn:

*Gaston Maspéro:
-Vị vua mới lên ngôi là Chey Chettha II (Ponhea Nhom) cho xây một cung điện tại Oudong, ở đây ông làm lễ thành hôn với một công chúa con vua An nam. Bà này rất xinh đẹp, về sau có ảnh hưởng lớn đến vua. Nhờ bà mà một phái đoàn An nam đã xin và được vua Chey Chettha II  cho lập thương điếm ở miền nam Cao Miên, nơi này nay gọi là Sài Gòn.
(Trích trong tác phẩm L’ Empire Khmer )

*Jean Moura:
Tháng 3 năm 1618,... vua An Nam gả một người con gái cho vua Cao Miên. Công chúa này rất đẹp, được nhà vua yêu mến và lập làm hoàng hậu tước hiệu Samdach...
(Trích trong tác phẩm Royaume du Cambodge-1883)

*Henri Russier:
Chúa Nguyễn lúc bấy giờ rất vui mừng thấy Cao Miên muốn giao hảo bèn gả công chúa cho vua Cao Miên. Công chúa xinh đẹp và được vua Miên yêu quý vô cùng...Năm 1623, sứ bộ Việt từ Huế đến Oudong yết kiến vua Cao Miên, dâng ngọc ngà châu báu, xin người Việt được khai khẩn và lập nghiệp tại miền Nam...Hoàng hậu xin chồng chấp thuận và cua Chey Chetta đã đồng ý...
(Trích trong Histoire sommaire du Royaume de Cambodge- 1914)

*Achille Dauphin Meunier:
Năm 1623, Chey Chettha II, người đã cưới công chúa Việt Nam, được triều đình Huế giúp đỡ để chống lại quân Xiêm... Một sứ bộ Việt Nam đã tới bảo đảm với Chey Chetta về sự ủng hộ của triều đình Huế. Sứ bộ xin phép cho dân Việt Nam tới lập nghiệp Việt Nam tới lập nghiệp ở các tỉnh phía Đông Nam Vương Quốc. Vua Cao Miên cho phép lập một phòng thu thuế tại Prey- Kôr để hỗ trợ việc định cư... 
(Trích trong cuốn Le Cambodge- 1965)

Như vậy từ đầu thế kỷ thứ 17, theo biên niên sử Cao Miên thì vua Chey Chettha II đã cưới một người con gái của chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên), và do ảnh hưởng của mối quan hệ ấy, quân và dân Đại Việt đã từng bước có mặt trên vùng đất Mô Xoài- Đồng Nai- Sài Gòn.
Khi tiếp cận các tài liệu này cụ Phan Khoang trong tác phẩm Việt Sử Xứ Đàng Trong- 1967 cũng đã đưa hành trạng của vị Hoàng Hậu Cao Miên gốc Việt vào chương Nam Tiến, mục II trang 309:

- Vua Chân Lạp Chey Chetta II muốn tìm một đối lực để chống lại lân bang Tiêm La nguy hiểm kia, đã xin cưới một công chúa Nguyễn làm hoàng hậu, trông mong được sự ủng hộ của triều đình Thuận Hóa, và chúa Hi Tông, có mưu đồ xa xôi, năm 1620 đã gả cho vua Chân Lạp một công chúa...
Trong phần ghi chú ông có bàn :

 Việc này, sử ta đều không chép, có lẽ các sử thần nhà Nguyễn cho là việc không đẹp, nên giấu đi chăng? Nhưng nếu họ quan điểm như vậy thì không đúng. Hôn nhân chính trị, nhiều nước đã dùng, còn ở nước ta thì chính sách đã đem lại ích lợi quan trọng. Đời nhà Lý thường đem công chúa gả cho các tù trưởng các bộ lạc thượng du Bắc Việt, các bộ lạc ấy là những giống dân rất khó kiềm chế. Nhờ đó mà các vùng ấy được yên ổn, dân thượng không xuống cướp phá dân ta, triều đình thu được thuế má, cống phẩm; đất đai ấy, nhân dân ấy lại là một rào dậu kiên cố ở biên giới Hoa-Việt để bảo vệ cho miền Trung Châu và kinh đô Thăng Long. Đến đời Trần, chính đôi má hồng của ả Huyền Trân đã cho chúng ta hai châu Ô, Lý để làm bàn đạp mà tiến vào Bình Thuận. Sử ta không chép, nhưng theo các sách sử Cao Miên do các nhà học giả Pháp biên soạn, mà họ lấy sử liệu Cao Miên để biên soạn thì quả Chey Chetta II năm 1620 có cưới một công nữ con chúa Nguyễn. 
Giáo sĩ Borri, ở Đàng Trong trong thời gian ấy cũng có nói đến cuộc hôn nhân này. Xem "Đại Nam liệt truyện Tiền biên" (mục Công Chúa), thấy chúa Hi Tông (tức chúa Sãi) có bốn con gái, hai nàng Ngọc Liên, Ngọc Đãng thì có chép rõ sự tích chồng con, còn hai nàng Ngọc Vạn, Ngọc Khoa thì chép là "khuyết truyện", nghĩa là không có tiểu truyện, tức là không biết chồng con như thế nào. Vậy người gả cho vua Chey Chetta II phải là Ngọc Vạn hoặc Ngọc Khoa[sic].

Xem trong Đại nam liệt truyện, mục Truyện các công chúa- Chúa Hi Tông (Chúa Sãi- Nguyễn Phúc Nguyên) có bốn người con gái:
1- Hoàng nữ Ngọc Liên 
Là chị cùng mẹ với hoàng tử Kỳ gã cho trấn biên doanh trấn thủ phó tướng Nguyễn Phúc Vinh (Vinh là con trưởng Mạc Cảnh Huống).
2- Hoàng nữ Ngọc Vạn 
Là em cùng mẹ với hoàng tử Kỳ, không có truyện.
3- Hoàng nữ Ngọc Khoa 
Là em cùng mẹ với hoàng tử Kỳ, không có truyện.
4-Hoàng nữ Ngọc Đỉnh 
Sinh mẫu là ai không rõ, lấy phó tướng Nguyễn Cửu Kiều. Năm Giáp tý (1684, Lê Chính Hòa năm thứ 5), mùa đông, Ngọc Đĩnh Mất.
Tương tự, trong Généalogie des Nguyễn avant Gia Long (Phổ hệ nhà Nguyễn trước Gia Long) của hai cụ Tôn Thất Hân và Bùi Thanh Vân- Bulletin des Amis de vieux Huế- 1920; cũng chỉ ghi: Ngọc Vạn, Ngọc Khoa là con gái thứ của Sãi vương, không để lại dấu tích.

Không rõ có tài liệu nào ngoài suy đoán chưa chắc chắn của cụ Phan Khoan năm 1968 "Vậy người gả cho vua Chey Chetta II phải là Ngọc Vạn hoặc Ngọc Khoa" ; mà trong Biên Hòa Sử Lược Toàn Biên xuất bản năm 1971- tập 1 Trấn Biên Cổ Kính, mục 1- Lược Sử (qua các thời đại), trang 21; cụ Lương Văn Lựu chép:
- Năm 1618:
Vua nước Chân- Lạp (trở nên là Kampuchéa sau này) là Chey Chetta II, dời đô từ Lovéa- Em về Oudông (Vương-Luông-La- Bích ?), liên lạc với Đại-Việt, thôn tính lần hồi nước Chiêm-Thành và đến năm 1620, cưới công-chúa Ngọc-Vạn, ái nữ của chúa Sãi Hi-Tông Nguyễn-phước-Nguyên. Với cuộc hôn nhân Lạp-Việt nầy, đưa đến việc thiết-lập các cơ sở đầu tiên của Nguyễn- Chúa tại xứ Nông Nại. Phủ chúa đã gây ảnh hưởng mạnh-mẽ ở triều đình Lạp  Man và trên đất Thủy-Chân-Lạp [sic]

Đến năm 1995 bản sách Nguyễn Phúc Tộc Thế phả được xuất bản tại Huế, trong phần tiểu sử người con gái thứ hai của Chúa Sãi là hoàng nữ Ngọc Vạn- không có truyện, nay được bổ sung:
Để tỏ tình thân thiện với lân bang, năm Canh thân (1620), Ngài gả công chúa Ngọc Vạn cho  vua Chân Lạp là Chey-Chetta II. năm Quí hợi (1623) một phái bộ miền Nam đi xứ qua Chân Lạp xin với vua Chey-Chetta II nhường lại một dinh điền ở Mô Xoài gần Bà- rịa ngày nay, vua Chân Lạp phải bằng lòng. Ngoài ra vua còn cho người Việt đến canh tác tại vùng đó. [sic]

Ghi chép của linh mục Cristoforo Borri - Roma 1631

Lúc bấy giờ, vào thời điểm các sự việc xảy ra mà chúng tôi trình bày ở trên; tại Đàng trong hiện diện các linh mục thừa sai Dòng Tên; trong đó có linh mục Christoforo Borri, ông đã có những ghi chép đầy thú vị về vùng đất này.
 Linh mục Christoforo Borri sinh ra trong một gia đình có địa vị tại Milano- Ý. Ngày 16 tháng 9 năm 1601, ông gia nhập Dòng Tên khi 18 tuổi. Năm 1616, từ Ma Cao Borri được gửi đi truyền giáo tại Đàng trong cùng với linh mục Pedro Marques; hai người đáp thuyền vào năm 1618. Ông cùng với hai linh mục Francisco de Pina và Francesco Buzomi đến lập cơ sở truyền giáo tại Nước Mặn (Quy Nhơn). Borri ở Hội An từ 1618 đến 1622. 
Năm 1631, tại Roma, ông cho xuất bản cuốn sách nổi tiếng bằng tiếng Ý :
Relatione della nuova missione delli P.P. della Compagnia di Gesù al Regno della Cocincina , Rome, Francesco Corbelletti- 1631 (“Tường thuật về sứ mạng mới của các linh mục thuộc phái đoàn Dòng Tên ở Vương quốc Đàng Trong”).
Cùng năm này sách được tái bản ở Milan; một bản dịch tiếng Pháp của linh mục Antoine de la Croix, người xứ Renne, công bố ở Lille cũng vào năm 1631. Cuối cùng người ta dịch nó bằng tiếng Hà Lan ở Liège, bằng tiếng Latin ở Vienne, rồi bằng tiếng Đức và tiếng Anh (theo tư liệu trong B.A.V.H tập 1931); Trong tài liệu này Bori có vài dòng về lai lịch của cô con gái của Chúa Sãi gả cho vua Chân Lạp”.
Từ bản gốc xuất bản tại Ý “ Rome, Francesco Corbelletti- 1631”  trung tá A. Bonifacy, giảng viên tập sự bộ môn lịch sử địa phương ở Viện đại học Hà Nội, đặc phái viên của trường Viễn đông bác cổ đã dịch và được đăng trên B.A.V.H tập XVIII năm 1931, lai lịch của cô con gái của Chúa Sãi gả cho vua Chân Lạp” nằm tại chương VII trang 70- 71.
Nội dung:
“En outre, il est continuellement à préparer et à mettre en marche des farces pour soutenir le roi du Cambodge,  mari d’une de ses filles bâtarde, le secourant de ses galères et de ses soldats contre le roi du Siam. C’est ainsi que partout, aussi bien sur terre que par mer, résonne le nom glorieux, et est honorée la valeur des armées de la Cochinchine” [sic].

Bản dịch của trung tá A. Boniface, được kiểm duyệt bởi các học giả Viện Viễn Đông Bác Cổ, liệu có chính xác theo nguyên tác "Relatione della nuova missione delli P.P. della Compagnia di Gesù al Regno della Cocincina , Rome, Francesco Corbelletti- 1631"  hay không? và lai lịch cô con gái của Chúa Sãi gả cho vua Chân Lạp” mà linh mục Borri “mắt thấy tai nghe” ghi chép lại tại Đàng Trong từ năm 1618 đến năm 1621 liệu có khả tín hay không?...

Bí mật lịch sử vẫn còn ở trước mặt chúng ta!
Nguyên Phong- Lê Ngọc Quốc.

* Bản tiếng Ý cổ 1631:
In oltre ftà in continui preparamenti e moti d’arme
per fouuenire al Re di Cam-bogia marito d’vna fua figlia baftarda foccorrendolo e con Galere, e co’ foldati contro il Re de Siam, che però per ogni parte cofi di terra, come di mare rifuona gloriofo il nome, & honorato il grido del valore dell’Armi della Cocincina.

(Đa tạ lão đại đã nhọc công trợ giúp)

 Tranh vẽ được cho là cảnh hộ tống một công nương con chúa Sãi gả cho một thương gia Nhật Bản

Tranh mô tả sinh hoạt của người Đàng Trong trong tác phẩm
Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà 1792 - 1793
-J. Barrow.


Tranh mô tả sinh hoạt của người Đàng Trong trong tác phẩm
Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà 1792 - 1793
-J. Barrow.




Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2017

THÀNH CỔ BIÊN HÒA- TRUY TÌM DẤU XƯA

Dấu vết Thành Biên Hòa trong bản đồ năm 1926 ( bộ sưu tập của Nguyễn Đình Đầu)
Tháng giêng năm Mậu Tuất (tháng 2 năm 1838), vua Minh Mạng sai phái 4.000 binh dân xây đắp lại Thành theo thiết kế kiểu Vauban, bằng đá ong. Đây là công trình trọng đại nên ngoài quan tỉnh, còn sai phái thêm quan tỉnh Gia Định và Bình Thuận giám sát công việc. Thành có chu vi 338 trượng, cao 8 thước 5 tấc, dày 1 trượng 5 thước , xung quanh chân thành bên ngoài có hào rộng 3 trượng, sâu 6 thước. Bốn cửa thành : Đông- Tây- Nam- Bắc, mỗi cửa đều có cầu đá bắc qua hào thành, để làm lối lưu thông ra vào. Cửa Nam nhìn ra sông Phước Long (sông Đồng Nai), bên trong thành, chính giữa dựng 1 kỳ đài cao, công sở, kho lẫm, khám đường.
*Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu:
1 thước=0.424m
1 trượng= 10 thước=4.24m
1 tầm =1/2 trượng= 2.12m


Theo họa đồ: LEVER DE LA PLACE DE BIEN-HOA et de ses environs (tỉ lệ 1/12.000) ta thấy Thành Biên Hòa có bình đồ hình vuông, hoa mai 4 cánh; nằm trong phường Quang Vinh. Bốn cổng thành hướng đông- tây- nam bắc có bình đồ hình vòng cung (bán nguyệt) trước 4 cổng thành có cầu bắc qua hào thành nối với các con lộ bên ngoài. Nếu so với các bản đồ năm 1926, 1930, 1965 và bản đồ vệ tinh tháng 10/ 2016, ta có thể thấy cổng thành Nam giáp đường Cách mạng tháng tám giao vời đường Hoàng Minh Châu; cổng thành Tây giáp đường Huỳnh Văn Lũy nối dài; cổng thành Đông giáp đường Phan Đình Phùng giao với đường Trần Minh Trí; cổng thành Bắc nay nằm trong con hẽm số 176 đường Phan Đình Phùng.
Trong mặt cắt Thành tỉ lệ 1/300, ta thấy tường thành cao 4m. Tường ốp đá ong mặt bên ngoài, mặt cắt hình thang, đáy trên (mặt thành) dày 0.5m, đáy dưới rộng 1.5m âm sâu dưới mặt đất khoảng 1m. Mặt trên thành được đắp đất rộng thêm 1m (tổng cộng rộng 1.5m). Đáy thành rộng 9.6m, vát ngược hình thang, tầm cao 3m là con đường rộng 3m (thấp hơn mặt thành 0.9m) chạy bao quanh vòng thành, là con đường vận chuyển, trấn thủ chiến lược. Bên ngoài có đường đắp chạy bao quanh chân thành rộng 8.4m; kế tiếp là hào nước rộng 14m, sâu 2,4m.

Tài liệu mô tả Thành Biên Hòa trong tuần báo L'ILLUSTRATION, JOURNAL UNIVERSEL số ra ngày 01/03/1862 tại Pháp.
“T.B. Tiếp theo lá thư, tôi gởi cho ông phần mô tả thành Bien-hoa, dựa theo một bản phác họa của bộ phận công binh của đoàn xuất chinh. Thành Bien-hoa, tọa lạc ở tả ngạn dòng sông cùng tên, là một hình vuông mỗi cạnh 296m, ở mỗi giữa cạnh có phần lồi tròn để bảo vệ các góc thành. Do người Annam xây dựng khoảng 1789, theo sơ đồ của đại tá Olivier (do Louis XVI điều qua), thành Bien-hoa có thể đồn trú khoảng 15 ngàn người. Mặt nghiêng tường thành được xây bằng gạch, cao 4m, tựa đỡ cho bờ thành có trắc diện mỏng. Phía trước là đường quanh bờ kè, rộng 8m, cặp theo hố sâu 2m, rộng 13m. Có bốn chiếc cầu bằng đá bắc qua hố, trục cầu tương ứng với trục của những phần hình cong của công trình. Ta vào thành qua bốn cái cửa hoặc cửa khuất ở phía bên phải của cầu, cách phần lõm vào (hình thành bởi những phần lồi và mặt tiền) 25m. Phần vũ trang gồm đại pháo nhiều kích cỡ, bằng gang hoặc là bằng đồng, cùng với khá nhiều máy bắn đá. Có 12 tòa nhà, và ngoại trừ bốn, tất cả đều là mồi cho hỏa hoạn.
(Người dịch Nguyễn Minh Hoàng- Sun Yata)
Nguyên Văn:
P. S. Je vous donne, à la suite de ma lettre, la description de la citadelle de Bien-hoa, d'après un croquis fait par le service du génie du corps expéditionnaire.

La citadelle de Bien-hoa, située sur la rive gauche de la rivière du même nom, est un carré de 296 mètres de côté, présentant, au milieu de chaque face, une partie circulaire saillante destinée à flanquer les angles de l'ouvragc. Construite par les Annamites, vers 1789, d'après les plans du colonel Olivier, envoyé par Louis XVI, elle pouvait contenir une garnison d'environ quinze mille hommes. L'escarpe en maçonnerie de 4 mètres de hauteur, soutenant un rempart d'un faible profil, est précédée d'une berme de 8 mètres de largeur, en avant de laquelle se trouve un fossé de 2 mètres de profondeur et de 13 mètres de largeur. On passe le fossé au moyen de quatre ponts en pierre, dont les axes correspondent à ceux des parties circulaires de l'ouvrage, et l'on pénètre dans l'intérieur par quatre portes ou poternes situées à droite des ponts, à 25 mètres du rentrant formé par les parties arrondies et les faces. L'armement consistait en canons de divers calibres tant en fonte de fer qu'en bronze, et en une grande quantité de pierriers. Les bâtiments étaient au nombre de douze; ils ont, à l'exception de quatre, été la proie des flammes.
 A. Spooner.


Bản vẽ bình đồ Thành Biên Hòa xưa chồng lên vị trí tương đối trên bản đồ phường Quang Vinh Thành phố Biên Hòa
Trích trong: Thành Biên Hòa và các cơ sở thiết chế tín ngưỡng- Nguyên Phong Lê Ngọc Quốc (bản thảo)

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2017

THIÊN LÝ CÙ BIÊN HÒA- GIA ĐỊNH (P3)

BƯỚC CHÂN CHINH PHỤC ĐẤT PHƯƠNG NAM!

Có những khi trên đường thiên lý
trông trời nam, ta chợt thấy hãi hùng!
Trên đầu ta, trời rộng vô cùng,
và trước mặt, đất dài vô tận.
Mặc, rừng thiêng, nước độc, chông gai!
Ta vẫn bước với chân trần Giao Chỉ.
Tiếng cọp um, vượn gào cùng khỉ.
Ta bổng lo, ta bỗng thấy ngại ngùng!.. ( Tèo can-cook)


Biên Hòa vùng đất luôn hấp dẫn từ bao đời nay. Trên hơn 300 trước, lưu dân Việt, Chăm, Hoa... từng lớp, từng lớp đã lặng lẽ dứt ruột rời bỏ mái nhà, gia đình, gia hương, mồ mả ông bà tổ tiên...tiến về phương nam- miền đất Hứa ! Họ mong mỏi tạo dựng một cuộc sống tốt hơn cố hương, dành cho con cháu mai hậu một vùng đất mới, một cuộc sống sung túc, tươi đẹp!

Miền đất mới này có quá nhiều sông rạch, tất nhiên khi di chuyển trên thuyền bè sẽ thuận lợi hơn về tốc độ, thời gian , sức lực…nhưng từ những ngày ấy đa số lưu dân là bần nông từ xa đến, họ chỉ có đôi chân trần, cùng ý chí cang trường...Khi gặp được cuộc đất tốt, họ dừng chân, phá đất, lập làng; đoàn lưu dân tiếp sau cứ thế, mở đường tiến về phương nam. Theo dấu chân mở cõi, những con đường hình thành, nối các thôn làng với nhau, liên kết giao thương trao đổi, qua lại mua bán...


Con đường thiên lý ngày ấy từ Bình Thuận dinh đi Biên Hòa trấn, cũng chỉ là con đường đất, nối các làng mạc thưa vắng với các thị tứ nhỏ bé của Biên Hòa xưa (bao gồm cả tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu ngày nay). Hai bên đường là rừng rậm, bải lầy, trảng cát hoang vắng. Lúc này còn nhiều cọp, voi, thú dữ và cả thổ phỉ; cho nên, thường các bộ hành phải kết hợp, lập đoàn từ 7 ~ 8 người trở lên, trang bị vũ khí mới dám vượt qua.
Năm 1859 Vua Tự Đức thấy đường quan lộ các tỉnh từ Khánh Hòa trở vào Nam, rừng rậm, vắng không có người ở, các người đi đường qua lại, đã lo về việc đói khát, lại không có chỗ nghỉ đỗ. Vua sai các quan tỉnh lệnh cho các phủ huyện chiêu mộ nhân dân (không cứ dân nội tịch hay ngoại tịch) đều làm nhà ở ven đường, bán cơm nước, cấp tiền công cho mỗi nhà 20 quan, hoặc 15 quan, 3 năm người nào thành cơ chỉ, không phải trả tiền lại. Thuê dân phu sửa tước cây cỏ, san bằng chổ hiểm chổ cao, phái lính bắn ác thú, để cho tiện việc nhân dân đi lại
(Đại Nam thực lục, Đệ tứ kỷ- quyển XX, kỷ mùi Tự Đức năm thứ 12) Nguyễn Thông một quan lại nhà Nguyễn; trong một chuyến đi trên thiên lý cù, khi dừng chân trên đoạn giữa Long Thành và Bà Rịa, ông đã cảm tác:
Tiếng ve ra rả từ đâu ?
Lại thêm chiều tới dạt dào bi thương.
Chồn chân nghỉ lại ven đường,
Rừng sâu vắng vẻ bặt không dấu người.
Sương đêm rơi áo ướt vùi ,
À uôm tiếng cọp, rụng rời bước mau!
Nhớ ai xa thẳm thêm sầu ,
Bơ vơ nào biết về đâu bây giờ ?
(Long Thành- Phước Tuy đồ trung hoài cảm)












(Nguyễn Thông 阮通 (1827-1884) tự là Hy Phần, biệt hiệu Ðôn Am, người huyện Tân Thạnh (Gia Ðịnh). Năm 23 tuổi đậu cử nhân trường thi hương Gia Ðịnh (1849) được bổ làm huấn đạo huyện Phong Phú, tỉnh Gia Định. Năm 1859, quân Pháp đánh Gia Ðịnh, Ông giúp việc quân 2 năm. Sau hàng ước 1862, ông được bổ đốc học tỉnh Vĩnh Long. Năm 1867, Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây, Ông được bổ ra Trung. Nhân mắc bệnh, ông cáo quan về nghỉ, dựng nhà riêng gọi là Ngọa Du Sào, gần thị xã Phan Thiết cùng các bạn làm thơ ngâm vịnh.)

Ngoài thủy lộ giao thông có từ khi mở đất, sau một thời gian ổn định, triều đình chúa Nguyễn, đã mở thêm đường bộ thông thương giữa 2 dinh Trấn Biên và Phiên An, có lẽ căn bản dựa trên những con đường nhỏ nối các thôn làng từ trước.

“ Khi mới khai thác thì bắc đầu từ phía bắc Tất Kiều đến Bình Giang, ruộng ao sình lầy, đường bộ chưa đắp, hành khách muốn qua Biên Hòa hoặc lên Thủy Vọt đều phải đi đò dọc. đến đời Thế Tông năm thứ 11 Mậu Thìn (1748), nhân có việc Cao Miên cảnh báo, quan điều khiển Nguyễn Hữu Doãn mới đo đạc giăng dây làm đường thẳng, gặp chỗ có kinh ngòi thì bắc cầu, chỗ bùn lầy thì đắp đất và cây gỗ. Từ cửa Cấn Chỉ của thành đến bến đò Bình Đồng dài 17 dặm, bờ phía bắc là địa giới Biên Hòa có đặt trạm Bình Đồng, đi về phía bắc qua núi Châu Thới, đến bến đò Bình Tiên rồi qua bến Sa Giang (Rạch Cát- cù lao phố) do đường sứ Đồng Tràm xuống Đồng Môn thôn xuống Mô Xoài, ấy gọi là đường thiên lý. Trên đường này chỗ nào gặp sông lớn theo lệ có đặt đò qua, người chèo đò được miễn sưu dịch khác.
(Trích mục: Đường thiên lý- Trấn Phiên An- Thành trì chí- Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức)
Trước đó trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn có chép:
“ Miền ấy nhiều sông ngòi, đường thủy nhiều chằng chịt. Đường bộ không tiện. Người đi buôn đường thủy dùng thuyền to, tất phải mang theo cái thuyền nhỏ để tiện khi đi vào các sông ngòi nhỏ. Từ cửa sông cho đến đầu nguồn phải đi đến 6, 7 ngày, hết thảy đều là đồng ruộng, trông mông mênh bát ngát và bằng phẳng. Đất ấy giồng lúa rất tốt. Lúa nếp lúa tẻ đều trắng và mềm. 
(Phủ biên tạp lục, viết ở Gác Tiêu-Dương, thành Phú-Xuân. Cảnh-Hưng năm thứ 37 tháng 8 ngày rằm Bính Thân (1776). Quyển thứ VI- Thổ sản Nguời dịch : Ngô Lập Chí- Khoa Xã Hội- Truờng Đại Học Tổng Hợp Hà Nội- 1959)
Bản đồ năm 1862 của người Pháp, ta thấy có đoạn thiên lý cù từ chợ Bình Tiên (đối diện cù lao phố- Biên Hòa) đến Don Chai- Đồng Cháy (khoảng 15.679 m)
Phần 1: Thiên lý cù đoạn từ Trấn Biên đi bến Bình Đồng giáp ranh giới Phiên Trấn đầu thế kỷ 19 (trích Hoàng Việt Thống Nhất Dư Địa Chí- Lê Quang Định)
...Chợ thôn Bình Tiên, tục gọi là chợ Lò Giấy (nay là khu vực gần đồn công an phường Bửu Hòa- Biên Hòa), đi 150 tầm đến cầu xã Tân Bản ( cầu nay vẫn còn tên này), cầu dài 3 tầm…cầu Ba ván dài 2 tầm+1.033 tầm+ 500 tầm thì đến núi Châu Thới, núi ở bên trái đường đi+ 3.489 tầm thì đến cầu Suối Nhum, cầu dài 5 tầm+ 780 tầm thì đến điếm thôn Bình Đất Thượng, tục gọi là Quán mít + 2.400 tầm đến ngã ba điếm Đồng Cháy+ 229 tầm
Đến bến đò Đồng Cháy, sông rộng 110 tầm, đến đầu địa giới dinh Phiên Trấn.
Tổng cộng đoạn này hết 8.591 tầm, theo cách tính 1 tầm = 1.825m thì ta có đoạn này dài (8.591x 1.825m) Tổng = 15.679m.

Dựa trên bản đồ google map :
Tổng= 15.210 m.
Từ đồn công an phường Bửu Hòa, đi hướng Tây Nam về phía Bùi Hữu Nghĩa/ ĐT16 :40m
Rẽ trái tại nem nướng Hồng Hoa vào Bùi Hữu Nghĩa/ ĐT16: 10m
Rẽ phải tại Nem Nướng Hồng Hoa về hướngNguyễn Tri Phương/ ĐH11 :300m
Rẽ phải tại Trường mẫu giáo Bửu Hòa vào Nguyễn Tri Phương/ ĐH11, băng qua Clb Bida 298 (ở bên phải cách 77 m) :1.400m
Băng qua Cửa Hàng Sắt Thép Đình Trình (ở bên trái cách 24 m)
Tại vòng xuyến, đi theo lối ra thứ 1 vào Quốc lộ 1K/ Xa lộ Hà Nội: 4.300 m
Chếch sang trái tại Dịch Vụ Cầm Đồ An Khang vàoBảo vệ tuyến ống nước thô: 1.300m
Rẽ trái về hướng Bảo vệ tuyến ống nước thô: 36 m
Rẽ phải về hướng Bảo vệ tuyến ống nước thô: 9 m
Rẽ phải về hướng Bảo vệ tuyến ống nước thô: 35m
Rẽ trái vào Bảo vệ tuyến ống nước thô: 1.400m
Rẽ trái tại Đức An Paper Power Unit vào Xa lộ Đại Hàn/ QL1A: 230 m
Rẽ phải tại Cơ Sở Thuận Hưng vào Lê Văn Chí
Băng qua Tiệm Sửa Xe Quốc Thống (ở bên phải cách 27 m): 2.400m
Tại Cửa Hàng Điện Cơ Năm Hữu, tiếp tục vàoNguyễn Văn Bá, băng qua Công Ty TNHH Xây Dựng Rạng Đông - Cn (ở bên trái cách 42 m): 2.900m
Rẽ phải vào Nhà Máy Điện Thủ Đức/Số 1
400 m đến đường Số 1, 450 m thì đến bờ sông Sài Gòn (bến đò Đồng Cháy xưa)
Tổng= 15.210 m.
So sánh hai số liệu đo đạc hai con đường:
năm 1806 = 15.679 m

năm 2016 = 15.210 m
Ta thấy chênh lệch 479 m...

Phần 2 : Thiên lý cù đoạn từ bến Bình Đồng ranh giới Trấn Biên đi đến chợ Thị Nghè đầu thế kỷ 19. (trích Hoàng Việt Thống Nhất Dư Địa Chí- Lê Quang Định)

(Còn tiếp)


Trích trong: Thành Biên Hòa và các cơ sở thiết chế tín ngưỡng- Thiên Lý Cù- Nguyên Phong Lê Ngọc Quốc (bản thảo)
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
(1) Gia Định thành thông chí- Trịnh Hoài Đức- Hậu Học Song Hào Lý Việt Dũng dịch và chú thích- NXB Đồng Nai 2006.
(2) Hoàng Việt thống nhất dư địa chí- Lê Quang Định
(3) Đại Nam Thực Lục- Quốc sử quán
(4) Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn Biên Hòa- Nguyễn Đình Đầu.
(5) Đại nam Quốc Lược Sử- Alfred Schreinr, Sài Gòn 1906
(6) Khâm định đại nam hội điển sự lệ-Nội các triều Nguyễn.
(7) Đại Nam nhất thống chí- Nội các triều Nguyễn.
(8) Biên Hòa sử lược toàn biên- Lương Văn Lựu.
(9) 85 sắc phong ở Miếu công thần tại Vĩnh Long.Thư viện khoa học tổng hợp Tp HCM 2013.
(10) 290 năm (1715- 2005) Văn Miếu Trấn Biên- Thành Ủy, UBND Thành phố Biên Hòa
(11) Đại Nam Thực Lục, Quốc Sử Quán Triều Nguyễn
(12) Minh Mệnh Chính Yếu, Quốc Sử Quán Triều Nguyễn.
(13) http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k62202176.item
(14) Việt Nam phong tục – Phan Kế Bính.
(15) Việt điện u linh tập- Lý Kế Xương.
(16) Nghi và văn cúng chữ Hán ở thành phố Biên Hòa, Bảo Tàng Đồng Nai, nhà xuất bản Đồng Nai, 2013- Hậu học song hào Lý Việt Dũng dịch và chú thích-
(17) Cơ sở tín ngưỡng và truyền thống ở Biên Hòa, Phan Đình Dũng
(18) Người Pháp và người Annam, bạn hay thù- Philipe Devillers- Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.
(19) Hồ sơ khoa học di tích lịch sử- kiến trúc nghệ thuật thành phố Biên Hòa- Ban di tích thành phố Biên Hòa.
(20) Lịch sử cuộc viễn chinh nam kỳ năm 1861-Le1opold Pallu, Hoàng Phong dịch và bình- Nhà xuất bản Phương Đông 2008
(21) tuần báo Le Monde Illustré của Pháp, số 254 năm thứ 6, ra ngày 22/02/1862
(22) Lý lịch sự vụ, nguyên tác Nguyễn Đức Xuyên, dịch và khảo chú: Trần Đại Vinh- Tạp chí nghiên cứu và phát triển số 6(123) và số 7(124) năm 2015
(23) Một số tài liệu trên internet và tư liệu điền dã
(24) http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k62202176.item
(25) https://www.delcampe.net/fr/collections/cartes/autres/carte-lever-de-la-place-de-bien-hoa-et-de-ses-environs-363149798.html

....


































Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2017

ĐÀN XÃ TẮC - THÀNH CỔ BIÊN HÒA !

Đàn Xã Tắc Thành Biên Hòa đước đánh dấu số 1 trong bản đồ năm 1862.
Năm 1832, Vua Minh Mạng ra chỉ dụ: Ở các địa phương từ xưa đến nay chưa đặt đàn Xã Tắc, nay chuẩn cho bộ Lễ bàn bạc, thi hành xây dựng với mục đích là cầu phúc cho nhân dân. Bộ Lễ đề nghị và vua Minh Mạng chuẩn y phương cách xây dựng cho các địa phương trong cả nước . Các địa phương chọn một khu đất rộng rãi, ở phía tây bên ngoài tỉnh thành ( bên phải cổng chính của lỵ sở Tỉnh); xây đàn Xã Tắc hai thành. Mỗi năm tế hai kỳ xuân- thu. Vật tế lễ gồm 1 trâu, 1 heo, quả phẩm và xôi đều 6 mâm ( từ năm 1835 trở về sau thì chỉ dụ xôi dùng gạo nếp thu hoạch ở ruộng tịch điền làm lệ vĩnh viễn. Đến kỳ tế, quan tỉnh phải chay sạch trước, đến ngày, vào khắc đầu canh năm, viên hữu tư bày biện đồ tế lễ phẩm ở đàn sở. Đàn đặt 2 bộ bài vị bằng giấy, bài vị thần đàn Xã đặt bên phải, bài vị thần Tắc đặt bên trái. Trước đàn đặt sắp hạng, cờ, giáo, và các thớt Voi cho nghiêm chỉnh, quan tỉnh cùng quan lại sở tại, đều mặt lễ phục làm lễ, cho đặt 10 dân địa phương để luôn chăm nom Đàn.

Đàn Xã Tắc, là một trong các loại đàn tế cổ xưa của Trung Quốc, đàn Xã Tắc là nơi được lập để tế Xã thần (Thần Đất 社) và Tắc thần (tức Thần Nông 稷) - hai vị thần của nền văn minh lúa nước. Người xưa quan niệm, dân chúng cần có đất ở, nên lập nền Xã để tế thần hậu thổ, lại cần có lúa ăn, nên lập nền Tắc để tế thần nông. Nếu để nước mất thì sẽ mất Xã Tắc, nên Xã Tắc cũng có nghĩa là đất nước, tổ quốc; Chính vì quan niệm như thế, nên từ xa xưa, các triều đại Trung Hoa, và Việt Nam đàn Xã Tắc có vị trí vô cùng quan trọng, thiêng liêng; nên việc lập đàn, tế lễ luôn được coi trọng giữ gìn, ước mong dân giàu nước mạnh, mãi mãi trường tồn.

Khi vua Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi và định đô ở Hoa Lư năm (968) cho xây dựng cung điện, ra định chế nghi lễ triều đình, sách lập quan chức, và cho xây đàn Xã Tắc.

Năm 1048, thời vua Lý Thái Tông đóng đô ở Thăng Long (Hà Nội) đàn Xã Tắc đã được xây đắp.

Đàn phải được xây dựng tại địa điểm không gian thoáng đãng, cảnh vật hoàn toàn thanh tịnh, sạch sẽ.
Khi một vương triều phong kiến bị thay đổi thì đàn Xã Tắc của triều đại trước cũng bị xóa bỏ và triều đại sau sẽ tìm địa điểm mới. Thời nhà Ngô lập đàn ở Sơn Tây, nhà Đinh lập đàn ở Hoa Lư, thời nhà Lý lập đàn ở Thăng Long, Hà Nội, thời nhà Trần lập đàn ở Thiên Trường, Nam Định, thời nhà Hồ lập đàn ở Thanh Hóa, thời Tây Sơn (1788- 1801) lấy chùa Thiên Mụ- Huế làm nền đàn Xã Tắc, thời nhà Nguyễn lập đàn ở Huế ( phường Thuận Hòa).
Các triều đại sau luôn phế bỏ quyền thống trị của triều đại trước và đương nhiên cũng phế bỏ long mạch, linh khí liên quan đến, Đàn Xã Tắc của triều đại trước, rồi dựng nên tín ngưỡng cho triều đại mình.

Năm 1806 vua Gia Long cho lập đàn Xã Tắc bên trong Kinh thành Huế; hàng năm xuân thu hai kỳ nhà vua thường đích thân làm lễ cầu thần đất và thần lúa cho mùa màng tốt tươi, quốc thái dân an.

Biên Hòa vốn là đất địa đầu của nam bộ, là nơi được xác lập hành chánh đầu tiên của vùng đất mới phương nam; nơi lập Biên Trấn trông coi công cuộc di dân, khai hoang lập ấp, mở mang bờ cõi. Vì thế khi chỉ dụ Minh Mạng năm 1832 vừa ban hành thì Biên Hòa cũng là một trong số các địa phương vâng lệnh, cho đắp đàn Xã Tắc ngay trong năm ấy. Quy mô kiểu dáng, phương hướng đều theo hội điển do triều đình quy định.

Công việc này do quan đứng đầu tỉnh lúc bấy giờ là Võ Quýnh tuần phủ kiêm bố chánh thực hiện. Xây dựng tại phía tây tỉnh thành, thuộc địa phân thôn Bình Thành, huyện Phước Chánh, thờ thần Xã Tắc bổn tỉnh (bên phải cổng thành hướng nam- hiện nay là khu vực cuối đường cách mạng tháng tám, gần hẻm 291 chùa Bửu Sơn ( chùa một cột).

Đàn được đắp đất sét sạch, nguyên liệu lấy từ các xã huyện trong toàn tỉnh (Lúc ấy Biên Hòa bao gồm cả các vùng : một phần Bình Phước, Bình Dương, Thủ Đức, Thủ Thiêm, Bà Rịa Vũng Tàu). Đàn xây trên nền đất cao, rộng thoáng hình vuông có hai tầng:

Tầng trên chu vi khoảng 17m, thành cao khoảng 0,45m sơn màu vàng, mặt nền Đàn tế sơn 5 màu ở 5 phương vị: chính giữa màu vàng, đông xanh, tây trắng, nam đỏ, bắc đen.

Ở giữa có 2 am : bên phải thờ bài vị của thần Xã (thần đất), bên trái thờ bài vị của thần Tắc (thần lúa). Trên nền có bệ đá khoét lỗ để cắm tàn, lọng dù.

Tầng dưới chu vi khoảng 120m, cao khoảng 0.85m sơn màu đỏ. Mặt trước hai bên có bệ đá có đục lỗ để cắm tàn, lọng dù. Chung quanh có lan can và trụ bằng đá. Phía bắc trổ Phượng Môn (hướng về kinh đô- Vua), đông- tây- nam thì dựng cửa thường. Trước đàn cách đường lộ, có hồ đá vuông làm minh đường. (50 năm trước còn dấu vết trong hẻm 291- khu quán lẩu tôm năm Ri, nay nhà dân xây dựng đã mất dấu)

Vì là nơi tế lễ quan trọng bậc nhất tỉnh, nên triều đình nhà Nguyễn chỉ dụ cho quan đầu tỉnh phải làm chủ tế. Vị quan đầu tỉnh phải trai giới, tinh khiết, giữ thân sạch sẽ trước ngày vào lễ. Ngày chánh lễ, gần giờ Tý, chủ tế quan phục, cân đai, mũ mão, xiêm áo, tề chỉnh; đi cáng từ Thành Biên Hòa đến Đàn. Đoàn rước lễ đi theo thứ tự dưới ánh đuốc sáng trưng, và đèn đinh- điệu (?) chập chờn.

Văn võ quan lại, binh lính trang phục nghiêm chỉnh. Đoàn binh lễ mang chiêng trống, tàn lọng, cờ đuôi nheo năm sắc, 28 lá cờ nhị thập bát tú. Đội quân nhạc: loa kèn, đội ngũ lôi, cổ nhạc. Voi, ngựa cũng đeo chuông, yên, bành màu sắc rực rỡ. Ngoài ra cũng có một kiệu gỗ chạm rồng ( long đình) sơn son thếp vàng để sắc chỉ, vật quí giá, ngọc, lụa…để tế.

Đoàn xuất hành từ hướng cửa bắc (nay là hướng đường Phan Đình Phùng đi đường Nguyễn Ái Quốc, rẽ trái xuống đường Hồ Văn Đại đến giáp đường CMT 8); Lối đi lên Đàn ở từng dưới chia là 3 phần:  chính giữa giành cho “Thần” đi, chủ tế, quan viên thì đi 2 bên. Xong đến tầng trên, làm lễ đốt một con nghé (phần sài), và chôn một ít lông và máu của con vật hiến tế (Ế mao). Khi quan viên trợ tế xướng lệnh “Đăng đàn”; chủ tế nghiêm chỉnh bước lên Đàn chánh. Các quan tuần phủ, bố chánh, án sát, thành thủ, đề lại, thông lại, thơ lại…Cùng bước theo vào theo hướng hai bên bệ cấp trái, phải. Các nghi và văn cúng tương tự như nghi lễ trong các hội cúng đình nam bộ ngày nay. Có đội lễ sinh hang chục người múa và đọc chúc văn- khấn nguyện. Lễ tất, các thực phẩm chia cho các quan lại theo phẩm tước. Quan chủ tế cũng có phần riêng, là ly rượu (phúc tữu) và miếng thịt (tri phúc tợ). Sau đó đoàn tế lễ trở về Thành Biên Hòa cũng theo con đường cũ, trong tiếng kèn, trống nhạc rộn rã!

Ngày nay cũng như nhiều tỉnh trong cả nước, Đàn Xã Tắc Biên Hòa đã không còn nữa, dấu tích chỉ còn được ghi chép trong sử sách ( Huế đã phục dựng). Lễ tế Thần xã tắc là hình thức tín ngưỡng lâu đời của cư dân nông nghiệp; Đàn thờ Đất và Ngũ Cốc . Đất sinh ra cây trái, ngũ cốc để nuôi sống con người nên được coi là bậc Thần linh có sức sống mãnh liệt. Con người phải nhờ đất mà ở, nhờ thóc để ăn, nên ngày xưa từ thiên tử cho đến thần dân đều coi trọng tế Thần Xã Tắc. Hai chữ xã tắc còn tượng trưng cho đất nước. Xã Tắc còn nước còn, Xã Tắc mất thì nước mất.

Văn cúng, văn tế hán nôm và các nghi thức, nhạc lễ hiện nay ở các đình miếu nam bộ có thể có nguồn gốc từ lễ tế Xã Tắc. Ngày nay tại các cơ sở văn hóa dân gian này, nó được phục dựng, phát huy mạnh mẽ góp phần gìn bản sắc văn hóa dân gian!

Biên Hòa 02/10/2016
Đàn Xã Tắc – Huế (mới phục dựng)
Tam Sanh (ảnh tư liệu tham khảo)

Lễ tế Nam Giao Huế
Lễ tế Nam Giao Huế

Bia cổ "Thái Xã Chi Thần" ở Huế

Di tích đàn Xã Tắc Thăng Long- Hà Nội


TÀI LIỆU THAM KHẢO:

(1) Gia Định thành thông chí- Trịnh Hoài Đức

(2) Hoàng Việt thống nhất dư địa chí- Lê Quang Định

(3) Đại Nam Thực Lục- Quốc sử quán

(4) Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn Biên Hòa- Nguyễn Đình Đầu.

(5) Đại nam Quốc Lược Sử- Alfred Schreinr, Sài Gòn 1906

(6) Khâm định đại nam hội điển sự lệ-Nội các triều Nguyễn.

(7) Đại Nam nhất thống chí- Nội các triều Nguyễn.

(8) Biên Hòa sử lược toàn biên- Lương Văn Lựu.

(9) 85 sắc phong ở Miếu công thần tại Vĩnh Long.Thư viện khoa học tổng hợp Tp HCM 2013.

(10) 290 năm (1715- 2005) Văn Miếu Trấn Biên- Thành Ủy, UBND Thành phố Biên Hòa

(11) Đại Nam Thực Lục, Quốc Sử Quán Triều Nguyễn

(12) Minh Mệnh Chính Yếu, Quốc Sử Quán Triều Nguyễn.

(13) Việt Nam phong tục – Phan Kế Bính.

(14) Việt điện u linh tập- Lý Kế Xương.

(15) Văn cúng- văn tế hán nôm ở Đồng Nai, Bảo Tàng Đồng Nai

(16) Cơ sở tín ngưỡng và truyền thống ở Biên Hòa, Phan Đình Dũng

(17) Theo Đàn xã tắc Thăng Long của Tiến sĩ Vũ Thế Khanh.

(18) Một số tài liệu trên internet và tư liệu điền dã

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2017

LÝ VIỆT DŨNG với Cảnh Đức Truyền Đăng Lục

trích trong trang : www.quangduc.com
http://quangduc.com/a51979/gioi-thieu-tac-pham-canh-duc-truyen-dang-luc
Giới thiệu tác phẩm: Cảnh Đức Truyền Đăng Lục
21/01/201411:26
Lý Việt Dũng
Lời giới thiệu Cảnh Đức Truyền Đăng Lục
Đọc bản dịch Cảnh Đức Truyền Đăng Lục của anh Lý Việt Dũng, tôi không khỏi thán phục khi biết sức khỏe anh rất kém mà vẫn phấn đấu kiên trì để hoàn thành dịch phẩm khó khăn này một cách đầy đủ chứ không lược dịch như ý định ban đầu.

1-Lời giới thiệu Cảnh Đức Truyền Đăng Lục
Sa môn Thích Thông Bửu - 2004
Nhà nghiên cứu Phật học Lý Việt Dũng là giáo thọ của Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam (Vạn Hạnh) cùng nhiều đạo tràng khác trong Tp.HCM, đặc trách mục "Hỏi đáp Phật học" của Nguyệt san Giác Ngộ, đồng thời cũng là người góp ý thường xuyên về mặt biên soạn kinh điển của Tổ đình Quán Thế Âm chúng tôi.
Ngoài thì giờ dạy học và viết báo Phật giáo ông thường xuyên chú tâm phiên dịch kinh Phật không phân biệt Thiền hay Giáo. Riêng về Thiền, ông chủ trương biên soạn các tác phẩm Thiền tông Hoa – Việt mảng Hán Tạng, tuần tự sau Việt tới Hoa, cụ thể như sau "Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục" là đến “Cảnh Đức Truyền Đăng Lục”.
Cảnh Đức Truyền Đăng Lục là một bộ Thiền sử Trung Hoa có thể nói là xưa nhất nhì và hoàn bị nhất mà từ khi ra đời vào năm đầu niên hiệu Cảnh Đức nhà Tống (1004) cho đến nay (2004), trải qua 1.000 năm mà chưa có ai phiên dịch hay chú giải vì sách vừa đồ sộ về dung lượng (Tiểu truyện 1.701 Thiền sư), lại vừa rất khó hiểu ở văn Lý và Thiền ý. Cho nên một dịch phẩm đầy đủ, trọn vẹn, nhất quán mà lại có chất lượng là rất cần không chỉ riêng cho các tăng, ni sinh mà cho cả những ai trong nước Việt Nam ta, muốn hiểu Thiền phong Trung Hoa nói riêng và lãnh vực Thiền nói chung.
Do ý thức được sự cần thiết của bản dịch, trân trọng tính chịu khó cần cù của dịch giả, nên ban đầu chúng tôi gợi ý động viên rồi sau đó trong phạm vi khả năng cho phép, đã hết sức ủng hộ dịch giả về mặt vật chất, vì nói thẳng, ông rất nghèo, và tinh thần, vì không mấy khi ông được mạnh khỏe, để hoàn thành công trình.
Sau khi hoàn thành bản thảo, nhà nghiên cứu có nhờ chúng tôi xem lại và viết mấy dòng giới thiệu. Đọc xong bản thảo chúng tôi vô cùng cảm động vì bản dịch được truyền tải từ nguyên văn chữ Hán qua chữ Việt một cách tự nhiên nhưng trong sáng dễ hiểu, nên đặt bút viết ngay mấy lời mà không có chút e ngại vì dĩ nhiên tác phẩm phải có chỗ khiếm khuyết, nhưng nhìn chung, công có thể lấn át tội. Vậy nên mạnh dạn có mấy lời giới thiệu thô thiển đến độc giả.
Tổ đình Quán Thế Âm 2004

Trụ trì
Sa môn Thích Thông Bửu



2-Lời giới thiệu Cảnh Đức Truyền Đăng Lục
HT. Thích Phước Sơn
Sau khi bộ Thiền Luận của thiền sư Suzuki được chuyển ngữ sang tiếng Việt, những độc giả hâm mộThiền tông có dịp thưởng thức một bộ Luận thư đầy lý thú, xem đó như là một bộ sách khái yếu về Thiền học rất đáng trân trọng, nhưng vẫn mơ ước được đọc một bộ Thiền sử hoàn bị hơn. Khát vọng chân chính ấy giờ đây đã trở thành hiện thực.
Đó là sự xuất hiện của dịch phẩm Cảnh Đức Truyền Đăng Lục. Bộ lục này do Thiền sư Đạo Nguyên người đời Tống biên soạn, gồm 30 quyển, trình bày từ bảy đức Phật đến 27 vị Tổ Tây Thiên, sáu Tổ Đông Độ và Ngũ gia thất phái, bao quát 52 thế hệ, 1.701 người. Sau khi soạn xong, Đạo Nguyên đem dâng lên vua Tống Chân Tông, vào năm Cảnh Đức thứ nhất (1004). Nhận được sách, Chân Tông rất hân hoan, liền truyền lệnh cho quan Hàn lâm học sĩ Dương Ức hợp lực cùng các bạn đồng liêu giám định, rồi bảo ông viết lời tựa. Qua đó chúng ta thấy rõ giá trị của bộ sách như thế nào.
Vì vậy mà các nhà Phật học xem nó như kim chỉ nam của Thiền tông nói chung và của Thiền tông Trung Hoa nói riêng. Giờ đây, bộ sách đã được nhà dịch thuật Lý Việt Dũng phát tâm phiên dịch. Khi đề cập đến vị dịch giả này, có lẽ ít ai trong chúng ta là không biết đến ông. Bản tính ông vốn cẩn trọng, phải chăng do chịu ảnh hưởng quan điểm được xem là của Lão Tử: Làm văn hóa mà sai lầm thì hại cả muôn đời. Vì thế mà trước đây khi nhận trách nhiệm dịch quyển Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục, ông đã tốn khá nhiều công phu thôi xao tư liệu, đắm mình trong Thiền tịch; và nhờ vậy mà khi phiên dịch, ông đã có cơ hội kiểu chính không ít những thuật ngữ Thiền học bị nhầm lẫn trong các tư liệu Phật giáo Việt Nam từ trước đến nay. Sau khi sách xuất bản, ông đã nhận được sự phản hồi đầy ưu ái của các bạn đọc có nhiều tâm huyết.
Với niềm khích lệ lớn lao ấy, ông tiếp tục dấn thân vào lãnh vực chuyên môn của mình trong công việc dịch thuật. Phải công nhận rằng ông vốn có năng khiếu bẩm sinh về Hán học, đồng thời có biệt nhãn sắc bén về Thiền lý, vô sư tự ngộ, và đặc biệt rất ngưỡng mộ phong thái kỳ đặc của các Thiền sư trác việt. Mặc dù không xuất thân từ danh môn chánh phái, cũng chưa từng tham thiền nhập định mòn rách bồ đoàn, thế mà khi đọc những vấn đáp nghịch thường của các Thiền sư, ông lãnh hội một cách dễ dàng như những câu chuyện nhàn đàm trong cuộc sống đời thường. Điều này gợi cho chúng ta liên tưởng đến truyền thuyết cho rằng thi hào Tô Đông Pha là hậu thân của một Thiền sư.
Quí mến mối chân tình tri ngộ, cảm kích tấm lòng nhiệt thành đối với tiền đồ Phật giáo và tin tưởng bản lĩnh của dịch giả, chúng tôi trân trọng giới thiệu dịch phẩm Cảnh Đức Truyền Đăng Lục với chư vị Tôn túc, Tăng Ni, Phật tử và độc giả bốn phương. Hy vọng dịch phẩm này sẽ đáp ứng phần nào niềm khát khao của những người muốn tìm về nguồn mạch tâm linh và nâng kiến thức Thiền học của Phật tử Việt Nam lên ngang tầm với thời đại.

Thiền viện Vạn Hạnh, mùa Vu lan năm 2004, PL.2548
Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam

HT. Thích Phước Sơn
* *


3-Lời giới thiệu Cảnh Đức Truyền Đăng Lục
Tỷ-kheo Viên Minh
Ngôn ngữ Thiền là ngôn ngữ phi ngôn ngữ, bởi nó không giống như ngôn ngữ triết học, tôn giáo hay bất kỳ thể loại nào khác. Nó không nhằm dẫn đến một hệ thống luận thuyết hay quan điểm nào cả. Tuy vậy, qua nó chúng ta có thể bắt gặp chiều sâu mà hành trạng, sự tu chứng hay thân giáo phong phú, trung thực của các vị Thiền sư biểu thị. Ngôn ngữ Thiền có vẻ như rất kỳ bí nhưng thực ra lại quá rõ ràng và trực tiếp đến độ dường như trong đó ngôn ngữ không hề có mặt.
Trớ trêu thay, hầu như tất cả Ngữ Lục đều viết bằng chữ Hán, dù cho đó là Ngữ Lục của các Thiền sư Nhật Bản, Hàn Quốc hay Việt Nam. Để đọc được những tác phẩm ấy chúng ta cần có những bản dịch tương đối chính xác, đòi hỏi người dịch không những phải có một trình độ uyên thâm về Hán ngữ, Việt ngữ cũng như Thiền lý, mà còn phải dày công tra cứu, so sánh, đối chiếu... rất nhiều tài liệu mới có thể chuyển ngữ được một cách trung thực, ít nhất là trên phương diện ngữ nghĩa.
Ngữ nghĩa sai thì khó có thể tiếp cận được với những ngụ ý mà chư Thiền đức muốn khải thị huống chi là chạm đến chiều sâu thân chứng của các ngài. Dịch thuật Ngữ Lục quả là khó hơn bất kỳ loại phiên dịch nào khác, bởi dịch giả không những phải dịch đúng từng câu từng chữ mà còn phải đọc được những ẩn ý vô ngôn giữa những từ, những cú như một thứ cạm bẫy thường giăng ra để thử thách căn cơ của chư Thiền giả.
Xem ra, ngoài tinh thông ngữ nghĩa người dịch còn phải có trực giác thấy được “Ý tại ngôn ngọai” mới mong chuyển tải được ý chỉ thâm mật của Thiền. Trong tất cả Ngữ Lục thì Cảnh Đức Truyền Đăng Lục mà Thiền sư Đạo Nguyên đã sưu tập được 52 đời truyền thừa của Thiền tông Trung Hoa với 1.701 vị Thiền sư xuất chúng, có thể xem là tiêu biểu, nòng cốt và mẫu mực cho hầu hết các Ngữ Lục về sau, do đó là tài liệu quí giá cho những ai muốn khám phá thế giới Thiền Đông Độ. Bởi vậy một bản dịch chính xác, trung thực sẽ đem lại lợi ích lâu dài cho nhiều thế hệ Thiền học Việt Nam.
Đọc bản dịch Cảnh Đức Truyền Đăng Lục của anh Lý Việt Dũng, tôi không khỏi thán phục khi biết sức khỏe anh rất kém mà vẫn phấn đấu kiên trì để hoàn thành dịch phẩm khó khăn này một cách đầy đủ chứ không lược dịch như ý định ban đầu. Với trực giác bẩm sinh về ngôn ngữ, với trình độ tinh tường về Hán học, với thời gian chuyên nghiền ngẫm tham cứu lâu dài về Thiền, anh vẫn thận trọng làm việc một cách nghiêm túc, cần cù và tỉ mỉ để tránh tối đa những sai sót mà người trước đã vấp phải. Tuy vậy, không tự mãn, anh luôn tham vấn, thỉnh ý chư tôn Thiền đức hoặc bàn bạc với các Thiền hữu cho đến khi khai thông được những điều chưa sáng tỏ. Đó chính là lương tâm khả kính của một người làm công tác dịch thuật.
Những sáng kiến mà anh thêm vào, như phần Phụ Lục, có thể giúp cho những người nghiên cứu khỏi mất thì giờ tìm kiếm tài liệu đối chiếu, tra cứu; phần Gợi Ý của riêng anh, dù chủ quan hay khách quan, vẫn là những ý kiến cần được tôn trọng như là thiện ý muốn giúp cho người nghiên cứu rộng đường tầm cầu Thiền lý, mặc dù khi tâm sự với tôi về những góp ý của mình anh tỏ ra khiêm nhường, rằng phần này chỉ đặc biệt dành cho tăng ni sinh trong các lớp Thiền học mà anh hướng dẫn thôi chứ không xem đó như là những kiến giải mẫu mực. Thực ra chưa ai dám tự cho kiến giải của mình là đúng, nên mới cần đến sự ấn chứng của chư vị Thiền sư đạt ngộ. Do đó, thái độ khiêm nhường của anh cũng là một phẩm chất đáng quí. Tuy nhiên, theo tôi, kiến giải vẫn là giai đoạn tất yếu có trước và sau khi ngộ.
Tôi không dám bàn gì thêm về giá trị nguyên tác hay phê bình phẩm chất bản dịch cũng như những góp ý chân tình của anh, vì tất cả đã được trình bày đầy đủ, xin nhường lại cho chư độc giả rộng quyền phán xét. Dĩ nhiên, không có bất kỳ một bản dịch nào hoàn hảo, nhưng với những gì đạt được trong dịch phẩm này không những là một cống hiến lớn lao của anh cho Thiền học Việt Nam nói riêng mà còn làm phong phú cho kho tàng văn học nước nhà nói chung. Chân thành cám ơn anh Lý Việt Dũng đã cho tôi xem lại bản thảo dịch phẩm Cảnh Đức Truyền Đăng Lục trước khi xuất bản. Cẩn bút.
Tổ đình Bửu Long, mùa An cư 2548
Tỷ kheo Viên Minh
Sách do Nhà xuất bản Hồng Đức ấn hành, có bán tại Nhà sách Văn Thành, http://nhasachvanhoaphatgiao.com/
Nhà Sách Văn Thành, ĐT: 38 482 028 – 0908585 560,<nhasachvanthanh@gmail.com>
411 Hoàng Sa, P8, Q3, TP. HCM


Thứ Ba, 24 tháng 1, 2017

BẢN ĐỒ ĐẠI NAM (01)

Xin được chia sẽ tư liệu quý của "nvh92" đăng trong quốc sử quán vOz, chân thành cảm ơn tác giả thật nhiều !
#2160
17-02-2016, 19:28


nvh92
Đã tốn tiền
Join Date: 05-2012
Posts: 2,705
Re: Quốc sử Quán vOz
3) Bản đồ của Đại Nam.
Nghành bản đồ học của Việt Nam có một diện mạo rất mới vào thế kỷ 19, trở nên đậm nét của cả Phương Tây và Trung Quốc hơn nữa. Sự đơn giản và tính chất phác thảo của bản đồ thời Lê Sơ đã bị thay thế bởi các nét ảnh hưởng quốc tế. Vị Hoàng đế lập ra nhà Nguyễn là Gia Long (1762 – 1820), mặc dù có quan hệ với Phương Tây nhất định nhưng ông về cơ bản là vị hoàng đế của Nho giáo, vì vậy ông vẫn cố gắng xây dựng và củng cố hệ tư tưởng Nho giáo tại Việt Nam dưới thời Nguyễn, thậm chí còn hơn cả dưới thời Lê Thánh Tông.
Ảnh hưởng của Phương Tây dưới thời Gia Long đến từ mối quan hệ giữa Hoàng đế Gia Long với người Pháp khi ông thông qua những ngời phương Tây làm trung gian để nhờ hỗ trợ về mặt vũ khí, huấn luyện quân đội… nhằm đánh bại nhà Tây Sơn. Sự ảnh hưởng của phương Tây này có thể nhìn thấy một cách rất đặc biệt trong các kiến trúc theo lối thành Vauban của Châu Âu trong các thành lũy, pháo đài bên cạnh đó vẫn giữ nét Á Đông.

Điển hình là Tử Cấm Thành của nhà Nguyễn tại Huế, cả khu vực nhìn từ trên cao xuống được thiết kế theo lối thành Vauban nhưng chi tiết kiến trúc, các nhà cửa, cung điện, cổng Ngọ Môn…vẫn tuân thủ chặt chẽ lối kiến trúc Á Đông, các thuật phong thủy.

Ngay khi vừa thành lập năm 1802, nhà Nguyễn sở hữu một lãnh thổ Việt Nam lớn và toàn vẹn nhất so với trước kia, vì vậy một nhiệm vụ cấp thiết đặt ra là phải tiến hành thu thập bản đồ trên phạm vi cả nước, cũng như từ các triều đại trước để tổng hợp lại tạo ra cơ sở cho việc quản lý quốc gia, mà lãnh thổ đã trải dài từ Trung Hoa tới sát Campuchia.

Các quan lại nhà Nguyễn phụ trách về bản đồ đã phải sưu tầm sau đó chỉnh sửa các bản đồ thời Lê, sau đó thêm vào các khu vực mới mà Đại Nam hiện có, chủ yếu nằm ở phía Nam.

Ngoài các ảnh hưởng từ quốc tế, thì có 2 yếu tố khác ta cần phải biết nếu muốn hiểu về sự phát triển nghành bản đồ học thời Nguyễn, đầu tiên là bối cảnh chính trị, thứ 2 là nguồn tư liệu.

Mặc dù, sau khi hoàng đế Gia Long lập nên nhà Nguyễn, đóng đô ở Huế, cương thổ của triều Nguyễn trải dài từ Bắc tới Nam nhưng sự kiểm soát của triều đình không đồng đều giữa các vùng. Triều đình Huế cố gắng kiểm soát chặt nhất khu vực miền Trung, Thừa Thiên – Huế, vốn là đất phát tích của nhà Nguyễn, còn 2 khu vực miền Bắc và Nam thì được giao quyền cai quản cho các quan tổng trấn, phía Bắc quyền tổng trấn Bắc Thành thời Gia Long được giao cho Nguyễn Văn Thành, tống trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt, 2 vị tổng trấn này thay quyền hoàng đế cai trị phía Bắc và Nam, đứng giữa ngai vàng và dân chúng.

Thực tế cả Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt đều xuất thân là võ tướng. Ở phía Bắc vốn là cố đô của nhà Lê, nơi có đông đảo tầng lớp Nho sĩ, trí thức, cựu thần… chính sách chủ đạo của nhà Nguyễn là vỗ về châm chước, lấy lòng. Phía Nam vốn là mảnh đất trù phú, dồi dào về sản vật, tài nguyên thì là được chú trọng khai thác về kinh tế. Chính sách cai trị như trên vào thời Gia Long tạo nên một hậu quả là tăng sự phát triển của tầng lớp quan liêu và giảm đi sự tích tụ tư liệu bản đồ.

Nghành bản đồ học thời Nguyễn không đi theo xu hướng thời Lê mà tiếp nhận phong cách bản đồ đã phát triển dưới thời Minh – Thanh. Phong cách bản đồ này ban đầu được sử dụng dưới thời Minh với bộ bản đồ “Đại Minh nhất thống chí” (大明一統志) vẽ năm 1461, thuật ngữ “Nhất thống chí” tiếp tục được sử dụng về sau này và xuất hiện cả ở Việt Nam vào thế kỷ 19. Kết cấu địa lý được tổ chức theo từng tỉnh, từng khu vực, trong mỗi phần được chia với một danh sách tiêu chuẩn các chủ đề. Tác phẩm đại lý đầu tiên theo motip trên xuất hiện ở Việt Nam là “Ô châu cận lục” (烏州近錄), đây là một tác phẩm địa lý không có bản đồ minh họa xuất hiện vào khoảng giữa thời Mạc.


Vào năm 1806, chắc chắn không lâu sau khi hoàn thành việc thu thập bộ “Hồng Đức bản đồ”, Lê Quang Định hoàn thành “Nhất thống dư địa chí” (Hoàng Việt nhất thống Dư địa chí - 皇越一統輿地志) dưới thời Hoàng đế Gia Long, tác phẩm này không có bản đồ vẽ kèm.

Trong số 10 chương, 4 chương đầu nói tới các tuyến đường đi về phía Bắc và Nam từ kinh đô Huế, tới biên giới, 6 chương còn lại gồm phần Thực lục ghi chép về đường bộ đường thủy ở các Dinh trấn, kể từ đường chính bắt đầu ở lỵ sở đi các nơi. Khi chép về Dinh trấn, có chép sơ lược về cương giới, phong tục, thổ sản, nét đặc trưng riêng của Dinh trấn đó.


“Thiên Tài nhàn đàm”, bản sao chép có chỉnh sửa vào năm 1810 dưới thời Nguyễn từ bản gốc là bản đồ thời Lê, thể hiện lãnh thổ phía Nam trong đó có Gia Định (Trên cùng là hướng Tây, dưới cùng là hướng Đông)

Ở miền Bắc, vẫn có các học giả bảo lưu truyền thống bản đồ học thời Lê. Năm 1810, Đàm Nghĩa Am đã biên soạn bộ “Thiên Tải nhàn đàm”( 天 載 閒 談), theo phong cách bản đồ thời Lê. Bản đồ vẽ hình toàn quốc, cho thấy cái nhìn của người phía Bắc về phần lãnh thổ được mở rộng ra ở phía Nam. Ngay bên cạnh Champa, Đàm Nghĩa Am đặt vùng Gia Định (Thành phố HCM ngày nay), và trong một bản đồ của vùng Tây Nam ông đặt vào đó khu vực Campuchia và Xiêm La. Trong quá trình đó, ông đã bỏ qua vùng bờ biển phía Nam nằm giữa Gia Định và thủ đô cũ của Champa.

Các bản đồ khác trong văn bản, tới từ Bình Nam đồ và bao gồm cả các vùng lãnh thổ bờ biển đã bị mất trên. Phong cách nghệ thuật của bản đồ cũng sinh động hơn khi vẽ hình hổ trên núi, cua trên bãi biển, cá dưới biển. Cố đô cũ của nhà Lê là thành Thăng Long không được gọi tên như thế nữa mà được gọi bằng cái tên mới là Hà Nội, và một số chi tiết mới được thêm vào bản đồ Hà Nội phản ánh sự thay đổi đương thời.

Một bản đồ trong “Giao Châu dư địa đồ”, thể hiện vùng An Quảng, thuộc Đông Bắc Việt Nam (Trên cùng là hướng Tây, dưới cùng là hướng Đông)

Tới khoảng năm 1830 lại xuất hiện một tập bản đồ khác, được gọi là Giao Châu dư địa đồ (交州輿地圖), với 3 phần bản đồ. Được vẽ bằng mực đen, bản đồ có phần vẽ nổi bằng mực xám minh họa mặt nước và bóng núi, màu đỏ cho các con đường. Các minh họa cho núi non đi từ phong cách đơn giản đến phong cách hiện thực hơn, nhiều cảnh quan và núi đá vôi. Điều thú vị là các hòn đảo thay vì được vẽ như các ngọn núi nhô ra trên mặt biển thì đã được vẽ giống đảo hơn với bờ cát bao quanh, có cả hình minh họa khỉ và voi trên núi. Điều này là kết quả của việc nhận thức địa hình tốt hơn và cách tiếp cận thực tế hơn của những nhà bản đồ học Việt Nam thời Nguyễn. Giao Châu dư địa đồ cũng tái tạo phần nào “Đại Man quốc đồ” trong một định dạng rõ ràng hơn trong khi vẫn đề ra một số chi tiết.

Vài năm sau công trình của Đàm Nghĩa Am, “Bắc Thành địa dư chí “ (Bắc Thành dư địa chí lục - 北城地輿誌錄) xuất hiện, như một cuộc khảo nghiệm các vùng thuộc phía Bắc thời Nguyễn, vẫn không có bản đồ đi kèm. Mỗi tỉnh tại khu vực miền Bắc được viết trong 1 chương sách, 11 tỉnh ứng với 11 chương sách.

Bản đồ Gia Định 1815 do Trần Văn Học vẽ. (Trên cùng là hướng Bắc, dưới cùng là hướng Nam).
Phía Nam, cũng có bản đồ riêng của mình, năm 1816, Trần Văn Học hoàn thành bản đồ Gia Định, cung cấp một cái nhìn trực quan và mạnh mẽ về ảnh hưởng của kiến trúc phương Tây lên cách thiết kế thành lũy. Bản thân Trần Văn Học cũng là võ tướng theo hoàng đế Gia Long lâu năm, từng cùng giám mục Bá Đa Lộc liên lạc với người Pháp để nhờ hỗ trợ.

Chính ông cũng là người đầu tiên tiến hành phác họa và xây dựng mẫu thành dạng Vauban, chính là thành Gia Định. Bản đồ cũng do chính ông vẽ vào năm 1815, và ở bản đồ này ta không còn thấy chút nào dấu vết của phong cách bản đồ thời Lê. Các con sông trong bản đồ cung cấp một cảm giác về đo lường chính xác hơn, và thành lũy thì hiện rõ nguồn gốc Vauban. Các đường giao thông, đường dần và tường thành đều có vẻ chính xác, cùng với nhà cửa, ao hồ chạy dọc theo chúng.

Không giống các bản đồ trước vẽ về phía Bắc, bản đồ này cung cấp rõ hơn cảm giác về cuộc sống thường nhật cũng như cuộc sống thương mại trong thành Gia Định hơn. Tuy vậy, tác giả vẽ bản đồ không vẽ các ngọn đồi hay có nất kỳ sự hiển thị về độ cao thấp nào.

Các ký hiệu trên bản đồ cung cấp khá rõ các đặc điểm tự nhiên, dân cư và xã hội, nhưng không như bản đồ thời Lê không có các minh họa chùa chiền, đền miếu, các chốn thiêng liêng và các công trình khác. Tất cả đều đúng trực giao, đúng về quy luật vật lý, không có các góc nhìn thẳng từ mặt trước giống bản đồ cổ.

Tới năm 1820, Học giả Trịnh Hoài Đức đã hoàn thành tác phẩm “Gia Định thành thông chí” (嘉定城通志), đây cũng là một tác phẩm đại dư không có bản đồ, nói về năm vùng thuộc lãnh thổ trấn Gia Định (Nam Bộ Việt Nam ngày nay). Trong khoảng 1 thập kỷ sau tiếp tục xuất hiện “Nam Kỳ hội đồ” (南圻會圖) với bản đồ của toàn quốc cũng như bản đồ cụ thể của 6 tỉnh Nam Kỳ. Bộ bản đồ này thì đã hoàn toàn theo phong cách Châu Âu.

Năm 1833, dưới thời Hoàng đế Minh Mạng bộ "Hoàng Việt dư địa chí" (皇越地輿志) được hoàn thành. Dù là bộ địa dư mang tính chất quốc gia nhưng nó cũng khá ngắn gọn, vẫn không có bản đồ, lãnh thổ cả nước chủ yếu được nói trong 2 chương, tập trung vào miền Bắc và miền Trung.

Phải tới cuối những năm 1830, nước Đại Nam mới có thể thu thập đầy đủ thông tin về các vùng trong toàn quốc.

Từ đó các bộ địa lý, bản đồ chất lượng hơn mới ra đời, đầu tiên là Đại Nam (Hoặc Nam Việt) bản đồ, nó đi theo hướng truyền thống kiểu “Hồng Đức bản đồ” nhưng vẫn có sự biến đổi nhất định. Nó bao gồm 4 bản đồ miền Bắc trích ra từ “Thiên Nam tứ chí lộ đồ”, bản đồ Cao Bằng, bản đồ các tuyến đường phía Nam trích ra từ “Bình Nam đồ”, bản đồ Thái Lan trích từ “Đại Man quốc đồ”.

Tuy nhiên một nét riêng của tập bản đồ này là Campuchia không còn được vẽ với tư cách là một quốc gia riêng lẻ nữa mà được vẽ với tư cách là Cao Miên phủ, vì lúc này Campuchia đã bị sát nhập vào lãnh thổ của nước Đại Nam, đồng thời Angkor cũng không còn được vẽ trong lãnh thổ Cao Miên phủ.

Cùng thời gian, triều đình nhà Nguyễn có một chút cởi mở nhất định với phương Tây đủ để tiếp thu khoa học công nghệ từ họ. Từ đó các nhà bản đồ học Việt Nam khác cũng mạnh dạn hơn trong việc sử dụng các kỹ thuật và phong cách phương Tây trong vẽ bản đồ quốc gia, lúc này đã có lãnh thổ tới tận vịnh Thái Lan bao gồm cả Lào và Campuchia, được các văn sĩ nhà Nguyễn gọi là “một đại quốc sừng sững giữa đất trời”.

Năm 1839 xuất hiện “Đại Nam toàn đồ” (Đại Nam nhất thống toàn đồ - 大南ー統全圖) bản đồ của toàn bộ 30 vùng lãnh thổ của đất nước Đại Nam bao gồm cả thuộc địa tại Lào, Campuchia và 82 cửa sông dọc theo bờ biển lãnh thổ của Đại Nam.

Bản đồ này đưa vào phong cách thực tế của bản đồ phương Tây, mô tả chính xác hơn hình dạng bờ biển và thủy văn phức tạp của sông ngoài, thậm chí là hệ thống sông Mekong. Các bản đồ địa phương cũng rất rõ ràng, vẫn tuân thủ nguyên tắc vẽ kiểu Châu Âu cộng với đặc điểm tự nhiên, các khu rừng cũng được thể hiện.

Bản đồ toàn bộ lãnh thổ nhà Nguyễn trong “Đại Nam nhất thống toàn đồ” hoàn thành năm 1839 dưới thời Minh Mạng, được vẽ theo phong cách ảnh hưởng mạnh từ Châu Âu.
Trong khoảng thời gian này xuất hiện thêm 2 tập bản đồ nữa đã sao chép từ tập nhật trình mà chúng tôi giới thiệu ở trên. Đầu tiên là “Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư dẫn”, đây là phiên bản đơn giản và truyền thống hơn của lãnh thổ quốc gia trong Đại Nam toàn đồ. Cả 3 bản đồ đều cho thấy khu vực Đông Dương, các cửa sông và đường bờ biển chạy tới tận Campuchia với cách phối cảnh như nhau. Hai bản đồ khác đơn giản hơn, tương tự như bản đồ năm 1839.

Bên cạnh đó trong phần bản thảo của “Thư dẫn” là một biểu đồ thiên văn, cho thấy mô hình của các ngôi sao. Không có các miêu tả để nhận dạng các ngôi sao và chòm sao, cũng không hề có tiêu đề hay ghi chép về bản đồ thiên văn này. Nó chỉ đơn giản có thêm trong phần bản thảo.

Các bản đồ thiên văn khác mà chúng tôi thấy được trong các tài liệu Việt Nam khác bao gồm 1 bản trong Thiên Hạ bản đồ (Tên gốc của Hồng Đức bản đồ). Tại đây các ngôi sao và chòm sao được đặt tên ứng với các con Giáp. Ngoài rat rung tâm của bản đổ thiên văn và định hướng của nó theo hướng được đơn giản hóa, không khoa học lắm vốn hay thấy trong bản đồ thiên văn Trung Hoa và Đông Á.

Mặc dù hoàng đế Thiệu Trị (1841 - 1847) cũng đã cho biên soạn " Đại Nam thông chí" (大南通志) nhưng phải tới thời hoàng đế sau đó là Tự Đức (1848 - 1884), người đã ra lệnh soạn ra tác phẩm địa lý lớn và hoàn chỉnh nhất của triều Nguyễn, nó cũng kết hợp được các văn bản về địa lý cùng với bản đồ.
Một bản đồ trong “Đại Nam nhất thống dư đồ”, miêu tả tỉnh Biên Hòa.
Năm 1861 theo lệnh Tự Đức bộ “Đại Nam nhất thống dư đồ” (大南一統輿圖) được hoàn thành. Tập bản đồ này có bản đồ của tất cả các vùng trong lãnh thổ nhà Nguyễn khi đó trải dài tới tận phía Nam ( thậm chí một vài vùng có nhiều bản đồ được vẽ). Cụ thể hơn “Đại Nam nhất thống dư đồ” 76 bản đồ gồm: Toàn quốc; các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Quảng Yên, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên, Qủang Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận, Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên và một số phủ thuộc các tỉnh trên. Mỗi tỉnh đều có ghi về diên cách, số nhân khẩu ruộng đất, thuế nộp hàng năm.

Bản đồ toàn quốc trong “Đại Nam nhất thống dư đồ”, không quá khác biệt so với “Đại Nam nhất thống toàn đồ” thời Minh Mạng.

Một số ảnh hưởng của phương Tây trong bản đồ này thể hiện qua cách vẽ các đường ranh giới, các hệ thống sông và đường bờ biển. Đồng thời nó cũng mang tính chất quốc tế hơn, các quốc gia xung quanh được hiển thị nhiều hơn so với các bản đồ trước đó. Ví dụ hệ thống sông Mekong được hiểu tốt hơn.
Từ năm 1865 tới năm 1882 vẫn dưới thời vua Tự Đức, Bộ địa dư đồ sộ “Đại Nam nhất thống chí” (大南一統志) được biên soạn dựa trên bộ bản đồ “Đại Nam nhất thống dư đồ” chúng tôi đã giới thiệu ở trên.

Nếu như “Đại Nam nhất thống dư đồ” là bộ bản đồ lớn nhất của nhà Nguyễn thì “Đại Nam nhất thống chí” còn vượt xa hơn trở thành bộ sách địa dư – lịch sử lớn nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam. Bộ sách chịu ảnh hưởng nhất định của bộ “Đại Thanh nhất thống chí” (大清一統志)soạn từ năm 1686 – 1842 từ thời Khang Hy tới Đạo Quang nhà Thanh.
Bản đồ cả nước trong quyển 1 của “Đại Nam nhất thống chí”.

Giống như trong “Đại Thanh nhất thống chí” thì “Đại Nam nhất thống chí” cũng thể hiện kinh đô Huế, phủ Thừa Thiên và 29 tỉnh còn lại trong cả nước. Các tỉnh được miêu tả với các chi tiết như: Đặc chung của tỉnh, các địa phương cấu thành tỉnh, đặc điểm tự nhiên - xã hội, dân cư - văn hóa - phong tục, thành lũy – làng xã, danh nhân lịch sử, các danh lam, thuế, sản vật đặc trưng.

Bản đồ kinh thành Huế trong quyển 1 của "Đại Nam nhất thống chí".

Các nhà địa lý học dưới thời Tự Đức là những người duy nhất bao quát được cả quốc gia trong thế kỷ 19. Dù cho sau này 6 tỉnh Nam Kỳ mất vào tay người Pháp năm 1867, sau đó là nền độc lập của quốc gia vào năm 1884.
Bản đồ kinh thành Huế trong quyển 1 của “Đại Nam nhất thống chí”.

Tuy vậy các hoàng đế nhà Nguyễn chưa bao giờ thôi hi vọng về việc tái thống nhất quốc gia. Gần như ngay lập tức sau khi Pháp chiếm được Bắc Kỳ, hoàng đế Đồng Khánh (1885 – 1889) đã cho biên soạn bộ địa dư “Đồng khánh địa dư chí lược” (同慶地輿志略) hay còn gọi là “Đồng Khánh địa dư chí” (同慶地輿志) với phong cách tiếp tục Âu hóa hơn nữa tuy nhiên chỉ thể hiện khu vực miền Trung và Bắc Việt Nam vì 6 tỉnh Nam Kỳ vào năm 1867 đã thuộc về Pháp.

Ngoài ra trong triều Đồng Khánh còn xuất hiện một bộ bản đồ tập hợp bản đồ các triều đại gọi là “Đại Nam quốc biên giới vị (vựng) biên” (大南國疆界彙編) hoặc còn có tên “Đại Nam cương giới vựng biên lược sao” (大南疆界彙編略抄) do các tác giả Hoàng Hữu Xứng, Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Xứng biên soạn. Bao gồm 1 bản đồ toàn quốc, 1 bản đồ kinh đô và mỗi tỉnh trong cả nước khi đó ( 31 tỉnh) đều có 1 bản đồ riêng. Các bản đồ vẽ theo phong cách một nửa truyền thống, một nửa phương Tây. Trong bản đồ bán đảo Đông Dương nhìn chung có thể dễ dàng nhận ra, đường bờ biển vẫn thể hiện theo kiểu cũ. Hệ thống sông Cửu Long được vẽ khá giống trong “Đại Nam nhất thống dư đồ”.


Sau đó 2 thập kỷ (Khoảng năm 1909) dưới thời hoàng đế Duy Tân (1907 – 1916), một tái bản của “Đại Nam nhất thống chí” xuất hiện dù lần này chỉ gói gọn trong lãnh thổ Miễn Trung. Phiên bản này có 17 chương, mỗi chương có 1 bản đồ, thể hiện tổng cộng 11 tỉnh, kinh đô và phủ Thừa Thiên, thêm vào đó là bản đồ quốc gia, ngoài ra có cả bản đồ Tử Cấm Thành ở Huế. Phiên bản này có hướng Âu hóa tới mức xuất hiện minh họa la bàn trên bản đồ, cùng các dấu hiệu xác định như đường sắt. Nét vẽ sông và biển khá thực tế nhưng núi thì không được thể hiện.

Trong thời kỳ là thuộc địa của Pháp, các học giả Việt Nam bắt đầu phát triển phong cách bản đồ mới, có một chút thiếu thực tế và nhiều chất Á Đông hơn. Ta có thể thấy nó trong 2 tập bản đồ là “Nam Bắc kỳ họa đồ”, tập bản đồ này là bản sao chép có chỉnh sửa của “Đại Nam nhất thống dư đồ” (1860). “Nam Bắc kỳ họa đồ” cho thấy sự ảnh hưởng nhất định từ xu hướng thực tế của phương Tây. Nhưng những người vẽ bản đồ cuối cùng vẫn lựa chọn phong cách nặng theo hướng Trung Quốc hơn với nét vẽ biển cuộn sóng tròn và núi hình thẳng đứng, chạy theo đường Các-xtơ (Karst).

Tập bản đồ thứ 2 là “Tiền Lê Nam Việt bản đồ mô bản” (前黎難越版圖摹本) Tập bản đồ Việt Nam: bản đồ Thãng Long, 13 thừa tuyên và 2 bản đồ toàn quốc. Đây là bản sao tập bản đồ thời Lê và phần vẽ thêm vào năm 1839. Ngoài sự thể hiện như truyền thống bản đồ này còn cho thấy hệ thống sông và đường bờ biển Đông Dương. Tuy nhiên sự diễn tả của bản đồ này là một bước đi từ phong cạch hiện thực kiểu Phương Tây thế kỷ 19 tới phong cách ấn tượng kiểu Á Đông.

Trong thực tế 2 tác phẩm này có thể đại diện cho một sự lựa chọn của các văn nhân Việt Nam khi đó, họ từ chối cách vẽ bản đồ khoa học và chi tiết kiểu Pháp mà hướng theo phong cách nghệ thuật kiểu Trung, đây cũng gần như là một hình thức tỏ thái độ chính trị ngầm của họ với sự cai trị của Pháp.


Một tập bản đồ khác vào giữa thế kỷ 19 miêu tả các thành lũy xây theo kiểu Vauban được nhà Nguyễn học tập từ người Pháp. Trong kho tài liệu của Département et région d'outre-mer (Bộ thuộc địa Pháp) còn lưu giữ một số bản đồ kiểu này, đó là bản đồ các tỉnh Hà Nội, Sơn Tây, Tuyên Quang, Nam Định và Nha Trang. Mỗi bản đồ đều vẽ những điều khác nhua nhưng cùng chung phong cách bản đồ phương Tây, phản ánh trong đó nhiều điều bao gồm cả hệ thống thành lũy.

Bất chấp những khác biệt các bản đồ này đều phản ánh thiết kế thành lũy kiểu Vauban từ thời Trần Văn Học vẽ bản đồ Gia Định năm 1816. Tuy vậy các bản đồ này không phải bản đồ đô thị chi tiết như của Trần Văn Học. Chúng mặc dù vẽ theo kiểu phương Tây nhưng kết cấu rất đơn giản và gần như kết cấu của bản đồ thời Lê, chỉ thế hiện tường thành và các công trình quan trọng của chính phủ, cùng một số công trình nghi lễ, không xuất hiện miêu tả nào về đời sống dân cư – kinh tế.


Trong quá trình tấn công Bắc Kỳ lần 2 những năm 1880 - 1884, người Pháp cũng đã tiến hành vẽ bản đồ và dùng các bản đồ địa phương để hỗ trợ chiến tranh và cai trị. Thư viện Quốc gia Pháp và thư việc bang Bayern ở Munich, Đức còn giữ 2 bản đồ mà rõ ràng đã được người Pháp sử dụng trong chiến dịch này. Họ đã sao chép bản đồ địa phương hoặc ủy quyền cho ai đó vẽ bản đồ để biết được thông tin về địa hình. Trên bản đồ còn có hệ thống ký tự Latinh tức là chữ quốc ngữ, điều này chỉ ra sự khéo thích nghi với môi trường của người vẽ ra bản đồ.

Chúng ta có 1 bản đồ Hà Nội, 1 của Ninh Bình và còn lại là Nam Định là những vùng thuộc Nam đồng bằng sông Hồng, tiếp đó là 2 bản đồ Sơn Tây, 6 bản đồ vùng núi phía Bắc và Tây Bắc ( Thuộc các tỉnh Lào Cai, Thái Nguyên, Lạng Sơn), tổng cộng 13 bản đồ. Bản đồ được vẽ với mực đen, màu khác được dùng cho mục đích khác (các tuyến đường màu đỏ, sông ngoài màu xanh, núi màu nâu hoặc xám).

Thành quách được vẽ với đặc trưng hình dạng Vauban của chúng. Mười ba bản đồ trên cho thấy dấu hiệu sự tồn tại sẵn có của những bản đồ thuộc miền Bắc Việt Nam nửa cuối thế kỷ 19.

Các dạng bản đồ địa phương khác cũng tồn tại trong thời Nguyễn. Các danh mục sưu tập tại Hà Nội liệt kê một số bản đồ các làng xã, nhưng chúng tôi nhận thấy không cần phải giới thiệu chúng ở đây. Một loại bản đồ địa phương khác cũng rất quan trọng với chính phủ đó là địa bộ. Các địa bộ này ghi chép về từng làng, cho thấy mỗi vùng đất, kích thước và kiểu đất. Chính phủ đã tiến hành các cuộc điều tra theo từng phần, mặc dù chúng tôi vẫn chưa biết các thức cụ thể của việc điều tra ra sao.

Bản đồ lăng tẩm hoàng gia triều Nguyễn, trích từ “Les Tombeaux de Hue: Cia-Long” của Charles Patris và L. Cadiere.

Các tập bản đồ cuối cùng mà chúng tôi quan tâm trong công trình nghiên cứu này lại rất khác biệt. Đó là bản đồ vẽ lại sơ đồ các lăng tẩm của nhà Nguyễn. Nó được vẽ với nét vẽ của Âu hóa, nhưng các đặc tính bên trong thì lại đậm chất Á Đông, họ đã vẽ nổi bật núi và nước, phản ánh ảnh hưởng vẫn còn rất mạnh mẽ của văn hóa Á Đông vào thời Nguyễn. Nhà nghiên cứu Rolf Stein trong cuốn “The World in Miniature” đã chỉ ra sự liên quan mật thiết giữa các lăng mộ này với các mô hình giả sơn cổ, vì chúng đều tuân theo quy luật phong thủy, các dấu hiệu tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết luận
Sự phát triển của nghành bản đồ học Việt Nam luôn đi cùng với các cố gắng của các chính quyền trong lịch sử nhằm mở rộng sự kiểm soát với đất nước. Bản đồ thể hiện các địa điểm nằm trong quyền kiểm soát của nhà nước và triều đình thông qua bản đồ để nắm được thông tin từ đó tìm cách cai trị, khai thác nguồn nhân lực, vật lực, tài nguyên.
Bởi vậy bản đồ Việt Nam thời kỳ tiền hiện đại gắn chặt với sự bảo trợ của chính quyền, cũng như mô hình quan liêu, mô hình quốc gia ảnh hưởng từ Trung Hoa. Cũng từ đó phần lớn phong cách của bản đồ là theo kiểu Trung.
Trong thời kỳ Lý – Trần khi mà mức độ tập trung chuyên chế quan liêu, cũng như sự chặt chẽ của nhà nước còn chưa cao thì việc thu tjaap dữ liệu để vẽ bản đồ cũng tương tự. Tới thời Lê và Nguyễn khi chế độ quân chủ tập quyền ngày càng hoàn thiện thì nhu cầu vẽ bản đồ và khả năng cung cấp tư liệu để vẽ bản đồ cũng ngày càng cao hơn.
Nội dung thể hiện của bản đồ Việt Nam chủ yếu là trong phạm vi quốc gia ít ở bên ngoài. Nếu có thì thường là nói tới các tuyến đường đi tới biên giới phía Bắc hoặc Nam, chứ không xa hơn. Các tuyến đường đi về phương Nam thường có điểm cuối là thủ đô Champa, nhưng lãnh thổ của Champa sau đó cũng sát nhập với Việt Nam. Cũng có khi chúng tiến tới khu vực Campuchia mà cụ thể hơn là Angkor, nhưng thời Nguyễn Campuchia cũng bị sát nhập. Chỉ có các tuyến đường đi tới Trung Hoa và Xiêm La, là những vùng lãnh thổ ngoài Việt Nam hiếm hoi được thể hiện, những cũng chỉ được thể hiện qua các bản đồ đường bộ là chủ yếu, ít có bản đồ đường thủy. Còn bản đồ đường biển thì không thấy xuất hiện trong lịch sử bản đồ Việt Nam. Tuy nhiên các ảnh hưởng của phương Tây mạnh mẽ vào Việt Nam trong khoảng cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 cũng đã cung cấp thêm những cái nhìn và các chi tiết về một khu vực Đông Nam Á trong các bản đồ vào thời điểm đó. Tuy vậy, Đông Á nói riêng và Châu Á nói chung, rộng hơn là bản đồ thế giới cũng vẫn xuất hiện mờ nhạt trong lịch sử bản đồ Việt. Các bản nhật trinh cung cấp nhiều thông tin giá trị về Việt Nam và một số địa điểm nước ngoài thực chất vẫn nằm trong khuôn khổ văn hóa trước những năm 1800. Cho tới giữa thế kỷ 19, bản đồ Việt Nam không đi theo hướng chú trọng thực tế, những phong cách vẽ bản đồ mới du nhập từ phương Tây chủ yếu dành cho các bản đồ của nhà nước.
Nghiên cứu của chúng tôi hiện tại chỉ mang tính khởi đầu, chắc chắn còn rất nhiều câu hỏi cần được trả lời, nhiều vẫn đề còn cần được nghiên cứu dựa vào các nguồn tìa liệu khác nhau. Nhìn chung, chúng ta khi nghiên cứu về lịch sử bản đồ học Việt Nam cần sử dụng các dữ liệu bản đồ để tăng hiểu biết về xã hội, lịch sử Việt, cũng như sự tự nhận biết, liên kết, phát triển của nó với thế giới qua các thời đại.


Hết.