Trong tiến trình nam tiến của dân tộc ta trong giai đoạn nữa cuối thế kỷ 17 đến hơn nửa thế kỷ 18, một trong những gia tộc được ghi chép về hành trạng và công lao nhiều nhất trong công cuộc này chính là gia tộc của Tướng quân Trần Thượng Xuyên.
- Ghi chép trong thư tịch Việt Nam.
Nguồn thư tịch của Việt Nam mà chúng ta có hiện nay, tài liệu sớm nhất ghi chép về gia tộc Trần Thượng Xuyên là:
1. Hà Tiên trấn, Hiệp trấn Mạc thị gia phả ( 河仙镇叶镇鄚氏家谱), soạn vào năm Gia Long thứ 17 (1818) bởi Vũ Thế Dinnh – một gia thần của họ Mạc ở Hà Tiên.
Và lần lược sau đó:
2. Gia Định thành thông chí (嘉 定 城 通 志) viết vào khoảng năm 1819- 1820 của Trịnh Hoài Đức (1765- 1825) Hiệp Biện Đại học sĩ, sách viết về miền đất Gia Định bằng chữ Nho và chữ Nôm, là một sử liệu quan trọng về Nam Bộ thời nhà Nguyễn.
3. Đại Nam thực lục (大南寔錄) khởi soạn từ năm 1821, là bộ biên niên sử viết về triều đại các Chúa Nguyễn và Vua nhà Nguyễn .
4. Đại Nam liệt truyện (大南列傳) khởi viết từ năm 1841, là một bộ sách lịch sử ghi chép về gia phả nhà Nguyễn, các sự tích, công trạng của các công thần, liệt nữ và danh tăng…
5. Đại Nam nhất thống chí (大南一統志) khởi viết từ năm 1861 của Quốc sử quán triều Nguyễn, sách hệ thống hóa kiến thức về đất nước, dân cư, địa lý và lịch sử Việt Nam lúc bấy giờ.
I- Tóm lược hành trạng của gia tộc Tướng Trần Thượng Xuyên tại Việt Nam (theo ghi chép của các tư liệu Việt Nam từ năm 1818 trở về sau ).
Hành trạng của gia tộc Trần Thượng Xuyên gắn liền với biến động lịch sử miền nam từ thời điểm 1679 khi nhóm Dương Ngạn Địch- Trần Thượng Xuyên vào Quảng Nam đến khi Trần Hầu (Trần Đại Lực) mất ở Hà Tiên.
1-Trần Thượng Xuyên
1. Đến Đàng Trong (1679): Không chịu thần phục nhà Thanh, các tướng nhà Minh: Trần Thượng Xuyên cùng với Dương Ngạn Địch dẫn theo hơn 3.000 binh lính và gia nhân trên 50 chiến thuyền cập bến Đà Nẵng, xin tị nạn chính trị và thần phục Chúa Nguyễn Phúc Tần.
2. Khai khẩn vùng đất mới: Chúa Nguyễn chuẩn y cho nhóm của 2 ông vào phương Nam định cư. Tướng Trần Thượng Xuyên dẫn quân đến vùng Bàn Lân (nay là Biên Hòa, Đồng Nai). Tại đây, ông cùng lưu dân “ mở mang đất đai, lập thành phố chợ, giao thông buôn bán….
3. Xây dựng thương cảng Cù lao Phố: Nhờ nhãn quan nhạy bén, ông biến Cù lao Phố (Nông Nại Đại Phố) thành một thương cảng sầm uất, là trung tâm thương mại lớn nhất Đàng Trong thời bấy giờ, thu hút tàu buôn từ Trung Hoa, Nhật Bản và các nước phương Tây; Sau đó lại dựng phố chợ ở Sài Gòn, chiêu tụ khách thương….
4. Sự nghiệp võ công: Ông là dũng tướng trung thành của các đời Chúa Nguyễn (Phúc Tần, Phúc Chu).
4.1. Theo các sử liệu: mười năm trước thời điểm Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý Đông Phố, lập phủ Gia Định; năm 1688 Huỳnh Tấn giết chủ tướng Dương Ngạn Địch, tự xưng “Phấn dũng hổ oai tướng quân” dự định hùng cứ miền cửa biển Mỹ Tho, khống chế thương thuyền qua lại, đánh cướp quấy nhiễu dân Cao miên. Chính vương Cao miên bấy giờ là Nặc Thu đóng ở U-Đông (phó vương là Nặc Ông Nộn đóng ở Sài- Côn), cho là âm mưu của chúa Nguyễn nên bỏ việc cống nạp, đắp thêm lũy, giăng xích sắt trên sông để phòng thủ. Tướng Thắng Tài Hầu (Trần Thượng Xuyên) lúc này đang đồn trú xứ Bàn Lân (Biên Hòa), theo lệnh Chúa Nguyễn hợp quân triều đình tiến đánh Hoàng Tấn. Thu phục xong loạn Hoàng Tấn, được chúa Nguyễn giao kiêm quản luôn đạo quân Long Môn (của nhóm Dương Ngạn Địch- Huỳnh Tấn), đóng quân ở Doanh Châu (Vĩnh Long). Sau đó Thắng Tài Hầu (Trần Thượng Xuyên) cầm quân bản bộ đi tiên phong tiến đánh Cao Miên, đốt xích sắt ngang sông, liên tiếp phá tan các thành lũy, bắt vua Cao Miên phải hàng phục. Chính vương Nặc Ông Thu, cảm thấy khó cự lại quân Đàng Trong cho nên dùng kế hoản binh, nạp cống phẩm, lần lữa tìm kế sách để đối đầu. Lần lượt tướng Mai Vạn Long bị phế làm thứ dân cuối năm 1689, rồi Nguyễn Hữu Hào (anh của Nguyễn Hửu Cảnh) bị cách chức vào tháng 8 năm 1690 vì không hoàn thành nhiệm vụ.
4.2. Mùa xuân năm 1691 chúa Hiền mất. vì thế việc bình định Cao Miên tạm dừng lại; trong năm này chưa rõ nguyên nhân vì sao phó vương Nặc Ông Nộn đang cai quản vùng Đông Phố lại bỏ về quê ở Srey Santhor- Cao Miên và chết ở tuổi 37 (1691).
Như vậy sau khi đại binh triều đình rút về từ tháng 7 năm 1690, và phó vương Cao Miên cũng bỏ về Cao Miên, thì vùng Đông Phố đã thuộc quyền quân quản của Tướng Thắng Tài Hầu (Trần Thượng Xuyên). Nông Nại đại phố được ông thành lập trước kia, tiếp tục phát triển thành trở thành thương cảng, trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế của cả vùng Đông Phố. Thời gian ấy khu Bến nghé, Sài Côn (Prei Nokor), Mỹ Tho Đại Phố cũng phát triển dưới quyền cai quản của Đô đốc họ Trần.
4.3. Mùa xuân năm 1698, triều đình sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành hầu (Nguyễn Hữu Cảnh) vào kinh lược đất Cao miên, lập Phủ Gia Định. Đặt chức Lưu thủ, Cai bạ và Ký lục để quản trị. Quân binh thì cơ, đội, thuyền, thủy bộ tinh binh, thuộc binh, lúc này từng bước quân đội chúa Nguyễn mới thực sự nắm quyền lãnh đạo trực tiếp vùng đất này. Tháng 10 Nguyễn Hữu Khánh được phong chức lưu thủ Trấn Biên; và quân Long Môn dưới quyền Tướng Thắng Tài Hầu (Trần Thượng Xuyên) cùng tham gia bảo vệ vùng đất Đông Phố.
4.4. Chỉ hơn một năm sau, tháng 7 năm 1699, vua Cao miên là Nặc Thu lại nỗi dậy chống đối. Từ Doanh Châu (Vĩnh Long) Tướng Trần Thượng Xuyên cấp báo về triều đình. Tháng 10 Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Đông Phố lần thứ 2, cai bạ Phạm Cẩm Long làm tham mưu, Lưu Thủ Trấn Biên Nguyễn Hữu Khánh làm tiên phong, lãnh quân hai dinh Bình Khang và Trấn Biên và thuộc binh 7 thuyền dinh Quảng Nam cùng tướng sĩ Long Môn của Thống binh Trần Thượng Xuyên ở Phiên Trấn, chinh phạt Cao miên. Mùa xuân năm 1700 Thống binh Trần Thượng Xuyên đánh nhau với giặc nhiều trận đều thắng, vua Cao miên là Nặc Ông Thu bỏ chạy, con rể là Nặc Yêm ra hàng (Nặc Yêm là con phó vương Đông Phố Nặc Ông Nộn năm xưa, sau này Nặc Yêm làm vua Cao Miên 2 giai đoạn 1700-1701 và 1710-1722). Tháng 4 năm 1700, Nặc Ông Thu phải trói mình đầu hàng, xin lệ thuộc trước quân dinh của Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh.
4.5. Sau đó (1705) Cao Miên lại có nội loạn, Chúa Nguyễn Phúc Chu sai tướng Nguyễn Cửu Vân vào nam thống lĩnh quân thủy, bộ Gia Định tiến đánh Cao Miên (vua Nặc Thâm); đánh tan viện binh Xiêm La tại Sầm Giang. Năm 1711 Nguyễn Cửu Vân được phong Trấn Biên doanh phó tướng, sau đó Nặc Thâm được Xiêm La hậu thuẩn về nước âm mưu tạo phản, vua Cao Miên được ta bảo hộ lúc bấy giờ là Nặc Yêm xin quân đến cứu, Nguyễn Cửu Vân cùng tướng Trần Thượng Xuyên tấu về triều đình, được Chúa cho viết thư bảo tùy nghi phủ dụ,… tình hình Cao Miên sau đó tạm yên.
4.6. Mùa đông năm 1714, Nặc Thâm lại đem quân vây đánh Nặc Yêm, Chúa phong Ông làm Đô đốc Phiên Trấn cùng Phó tướng Trấn Biên Nguyễn Cửu Phú tiến quân sang Cao Miên hỗ trợ Nặc Yêm, đánh bại Nặc Thâm. Mùa hạ năm 1715, Xiêm La lại tính gây hấn, muốn phát binh giúp Nặc Thâm đánh phá, Nặc Yêm lại qua Gia Định cầu cứu, 2 tướng Cửu Phú và Thượng Xuyên lại ra tay hổ trợ, tình hình Cao Miên lại yên ổn, việc này khẳng định uy thế của Đàng Trong tại khu vực lúc bấy giờ, và Thống binh Trần Thượng Xuyên và quân binh của Ông đã góp công xương máu không ít cho thành công ấy!
2-Trần Đại Định
Sau khi Trần Thượng Xuyên mất, con trai là Trần Đại Định do chân ấm tử, trải làm quan đến chức thống binh, tước Định Sách Hầu, chỉ huy hai đạo binh: quân bản bộ là Long Môn và quân Phiên Trấn (Sài Côn). Ông là người trực tiếp góp công lớn bằng quân sự, tạo tiền đề cho việc sáp nhập vùng đất Peam Mesar (Mỹ Tho) và Longhor (Vĩnh Long) vào nước ta năm 1732.
v Sự nghiệp võ công:
1. Dẹp loạn Xá Tốt: năm 1731 Người Lào Sá (Xá Tốt), khởi loạn ở Cầu Nôm, cùng người Cao Miên ở rừng hoang kéo xuống đánh phá Gia Định, cướp giết dân Việt… Vì bất ngờ nên quan dân đều hoảng sợ; cai cơ Đạt Thành hầu chống giữ ở Bến Lức và bị giết. Thống binh Định Sách Hầu Trần Đại Định bèn đem thuộc tướng Long Môn chận đánh ở Vườn Trầu, cùng điều khiển Trương Phúc Vĩnh, giám quân Nguyễn Cửu Triêm hợp quân đẩy lùi địch. Tháng giêng 1732 giặc Lào lại hợp quân đánh phá Cầu Nôm; Trương Phúc Vĩnh tiến quân đánh, Nặc Tha sợ nên đưa nhiều của cải đút lót, Phúc Vĩnh bèn lưu Trần Đại Định đóng quân bắt giặc, còn mình thì kéo quân về. Mùa hạ tháng 4, Trần Đại Định tiến quân đến Lô Việt, thế giặc cùng quẫn, lại có Nặc Tha góp sức đánh bắt, bắt được giết hết. Trước là khi giặc Lào chưa bình xong, Chúa xuống thư quở trách, Trương Phúc Vĩnh sợ tội báo về đỗ tội cho Đại Định…Biết có âm mưu hãm hại, Đại Định vượt biển ra Thuận Hoá, vào cửa cảng Đà Nẵng, Ông làm biểu trần tình oan khuất, các quan bàn muốn trị tội; nhưng Chúa không nỡ, sai tạm giam Đại Định ở Quảng Nam rồi sai quan đi Gia Định xét hỏi, Phúc Vĩnh thêu dệt buộc tội cho Đại Định, riêng chỉ một mình Nguyễn Cửu Triêm cố cãi là oan. Bản án dâng lên, thì Đại Định đã bị bệnh chết ở trong ngục. Chúa rất thương, truy tặng Đô đốc Đồng tri, thụy là Tương Mẫn.
2. Bảo vệ vùng biên viễn, mở rộng đất đai: Ông không chỉ trực tiếp chiến đấu mà còn có công đắp lũy Hoa Phong và củng cố hệ thống phòng thủ, giúp ổn định trật tự trị an cho vùng đất mới được khai phá. Sau khi loạn lạc được dẹp yên, vì lo sợ uy thế của quân đội Chúa Nguyễn và để giữ vững ngai vàng (cầu hòa sau những hiểu lầm trong chiến tranh), vua Cao Miên đã chủ động dâng hai vùng đất Peam Mesar và Longhor cho chúa Nguyễn để tạ ơn. Ngay sau khi tiếp nhận, năm 1732, chúa Nguyễn đã cho lập đơn vị hành chính “ lập châu Định Viễn, dựng dinh Long Hồ” .
Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công cuộc Nam tiến, giúp chúa Nguyễn chính thức làm chủ vùng đất trù phú ở hạ lưu sông Tiền, tạo tiền đề để tiếp tục mở rộng bờ cõi xuống toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long sau này.
3-Trần Đại Lực
Ông là con của Tướng Trần Đại Định, cháu của Đôc đốc Thắng Tài Hầu Trần Thượng Xuyên. Khi biết có âm mưu hãm hại, tướng Đại Định trốn đi; Trương Phúc Vĩnh cho là ông trốn về Quảng Đông, nên ra lệnh bắt cả nhà Đại định, Đại Lực được đưa về Hà Tiên trốn tránh, nương nhờ bên Ngoại là gia tộc Mạc Cửu. Sau đó Đại Định được minh oan, Trần Đại Lực ở lại Hà Tiên, được tập ấm sau đó làm tướng phục vụ trong quân của Mạc Thiên Tứ.
v Sự nghiệp võ công:
Sử chép: Tháng 3 mùa xuân năm thứ 3, Đinh Hợi (1767), Miến Điện (vốn là man ở Tây Nam. Xét chuyện Nguyên Thế Tổ đánh Miến Điện hay chuyện Minh Quế vương Do Lang chạy qua Miến Điện tức là chỗ này. Người ở đây có tục vẽ bụng, nên gọi là Hoa Đỗ, người nước Xiêm gọi họ là Phù Ma, nhân người Xiêm oán hận vua họ nên (quân Miến Điện) xua quân đánh tan tành nước Xiêm, đốt hết cung thất, cướp hết ngọc lụa, bắt được Phong vương cùng Vương tử là Chiêu Đốc Đa và lùa hàng vạn dân đem về, để lại một vùng bạch địa. Con thứ ba của vua là Chiêu Xỉ Xoang chạy trốn sang Cao Miên. Con thứ hai của vua là Chiêu Thúy (Chúy) thì chạy sang Hà Tiên, mà lời đồn đại quân Xiêm có ý định đánh chiếm Hà Tiên cũng tịt luôn. Tông Đức Hầu (Mạc Thiên Tứ) đem hết sự tình tấu đạt lên cùng lời tạ ơn quan Điều Khiển rút hết viện binh về để khỏi hao tổn. Tháng 5, quan Khổn suý Gia Định cho triệu các ông Siêu Tông Đức hầu đem hết sự tình tấu đạt lên cùng lời tạ ơn quan Điều khiển đề nghị rút Nghĩa hầu đem quân về nghỉ ngơi. Tuy vậy Tông Đức hầu còn lo sợ nước Miến Điện đang thừa nhuệ khí kéo tới xâm lấn nên mới sai người cháu bên ngoại (妹姑子) là cai đội Thắng Thủy đội Sửu Tài hầu Trần Văn Lực (là con của viên tướng giữ các châu Cao - Lôi - Liêm là Tổng binh Định Sách hầu, cháu của Đô đốc Thắng Tài hầu) đem thuyển chiến lớn và binh lính ra đóng ở xứ Chân Bồn ( tức vùng giáp ranh với nước Xiêm) để tuần phòng vùng biên cảnh. Lúc ấy, nước Xiêm sau cơn binh hỏa lại bị dịch bệnh hoành hành dữ dội, quân sĩ Hà Tiên tuần thủ gần Xiêm và dân Xiêm La bị chết rất nhiều, Sửu Tài hầu (Đại Lực) cũng bị bệnh mà chết .
Ø Như vậy, kể từ sau khi Trần Đại Định bị hãm hại và chết oan ức trong ngục ở Quảng Nam :
“ Từ khi Đại Định trốn đi, thì viên Điều khiển (Trương Phúc Vĩnh) cho là ông trốn về Quảng Đông, nên ra lệnh bắt cả nhà Đại Định” và tất nhiên gia sản bị tịch biên, quân tướng Long Môn vị thâu tóm hoặc bất phục bỏ trốn, hoặc tự giải tán; và thế là tầm ảnh hưởng của gia tộc Trần tướng công tại Đông Phố sau 50 năm xây dựng bằng xương, máu… bổng chốc lụi tàn!
*Thư tịch của Đại Thanh vào thời gian này có chép:
臣云:先年鄭成功占踞臺灣時,麾下原有各鎮兵船。及施烺平臺之後,有馬五鎮一䑸,不隨投誠,前至廣南,攻打東埔寨,得其島嶴,屯聚於內,借前明苗裔名色,號召其間。後馬五鎮身故,又為廣東人陳上川占踞。上川歿後,伊子勢弱,被廣南王撤進覊留為官,不使掌握兵權。其地至今仍屬廣南兼轄…
Tạm dịch: "Thần nghe rằng: năm trước Trịnh Thành Công chiếm cứ Đài Loan. Bấy giờ dưới cờ vốn có binh thuyền các trấn, kịp khi bình định Đài Loan về sau lại có Mã Ngũ Trấn không chịu theo đầu phục. Trước đến Quảng Nam đánh chiếm trại Đông Phố, chiếm được đảo, vũng vịnh ở đấy, đóng đồn tụ họp bên trong, mượn danh nghĩa miêu duệ của nhà Minh cũ để hiệu triệu. Sau Mã Ngũ Trấn chết đi, lại bị người Quảng Đông là Trần Thượng Xuyên chiếm cứ. Thượng Xuyên mất rồi, con y yếu thế, bị Quảng Nam vương triệt bỏ, trói buộc giữ lại làm quan, không cho nắm giữ binh quyền. Đất đó đến nay thuộc về xứ Quảng Nam…".
Tóm lại: Xuyên suốt gần 90 năm, kể từ thời điểm Trần Thượng Xuyên vào Đông Phố (1679 Kỷ Mùi), đến khi Trần Đại Lực chết sau trận đánh Xiêm La ở vùng Hà Tiên (1767); gia tộc Trần Thượng Xuyên đã đóng vai trò là "người mở đường" về kinh tế và "lá chắn" về quân sự, cho vùng đất mới này lúc bấy giờ.
*Vinh Danh, tưởng nhớ:
Tưởng nhớ công lao của gia tộc Họ Trần, người dân đã lập miếu thờ Tổng Binh Trần Thượng Xuyên sau khi Ông mất :
1- “ Trần tướng quân nhiều phen giao chiến làm cho quân địch phải kiêng sợ sau cùng được lập đền thờ ở đó [Thiết luỹ] và ở xã Tân An dinh Phiên Trấn. Tại thôn Tân Lân, dinh Trấn Biên, mọi người nhớ công khai khẩn của Ông mà miếu thờ hương khói không dứt.”
2- “Đền thờ tướng quân họ Trần: ở địa phận thôn Tòng Chánh, huyện Bình Dương; Tướng quân họ Trần, tên là Thượng Xuyên, người Quảng Đông. Làm Tổng binh nhà Minh, Nhà Minh mất, ông không chịu thần phục vua nhà Thanh nên mới qui phụ bản triều, đánh Cao Miên có công, lại lập ra phố chợ ở Sài Gòn, chiêu tụ thương khách. Người sau nhớ công đức lập đền thờ. Các đời Minh Mạng, Thiệu Trị đều phong làm Thượng đẳng thần, nay dân xã phụng thờ, hương hỏa như xưa.”
Tổng binh Trần Thượng Xuyên, từ năm Minh Mạng năm thứ 3 (1822), được sắc phong Thượng đẳng Thần và đưa vào miếu Hội Đồng ở thành Gia Định để phụng thờ; tướng Trần Đại Định cũng được phong Trung đẳng Thần:
1- Miếu Hội Đồng tỉnh Vĩnh Long: thờ 02 sắc Thượng đẳng thần Trần Thượng Xuyên, 03 sắc Trung đẳng Thần Trần Đại Định, (nay gọi là miếu Công Thần hiện vẫn còn thờ phụng).
2- Miếu Hội Đồng tỉnh Định Tường: thờ 2 sắc Thượng đẳng thần Trần Thường Xuyên, (hiện vẫn còn thờ phụng).
Hiện nay tại Hà Tiên có con đường mang tên Trần Hầu (Trần Đại Lực) là một con đường huyết mạch lâu đời của thành phố miền biên viễn. Mộ ông được chôn cất trên triền núi Bình San, và người dân địa phương luôn ghi nhớ công ơn của ông.
II- Chùa Thanh Lương và các bài vị của gia tộc Trần Thượng Xuyên.
1. Chùa Thanh Lương (xưa thuộc xã Mỹ Khánh, tỉnh Biên Hòa) nằm bên hữu ngạn sông Đồng Nai, đối diện tả ngạn là Điện Quan Đế- Thất phủ Miếu cù lao Phố xưa (hiện nay dân gian gọi là Chùa Ông cù lao Phố). Theo hồi cố của các vị hòa thượng trụ trì thì chùa nguyên là nhà Thờ của gia tộc Tướng Trần Thượng Xuyên, về sau con cháu Đức Ông “cải gia vi tự”, và nhà chùa vẫn hương khói chạp giỗ Họ Tộc kể từ ngày ấy.
“…Hậu tổ thờ Tổ sư Đạt Ma, ông Giám Trai và 14 long vị Tổ. Đặc biệt, thờ long vị và tượng đức ông Trần Thượng Xuyên, nguyên là Tổng lãnh binh ba châu: Cao, Lôi, Liêm dưới triều Minh (Trung Hoa). Năm 1679, ông vượt biển đến đất Đại Việt xin thuần phục chúa Nguyễn và được chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) chấp thuận cho vào khai khẩn xứ Đông Phố (nay là Đồng Nai). Năm 1996, long vị Đức Ông được gia đình họ Trần rước về thờ tại tộc gia (Tp. Hồ Chí Minh). Dưới chân tượng Đức Ông có ghi hàng chữ Việt: "Hộ pháp Tam Bảo Tôn Thần Trần Thượng Xuyên thần tướng Quy y ngày 8/1/Canh Thìn (1655- 1700) - Gia đình Lâm Trợ, phụng cúng 1883" (tượng bằng gốm làm theo mẫu tượng đồng có từ cuối thế kỷ XIX đã bị mất). Dựa vào long vị Đức Ông từng được tôn thờ ở hậu Tổ và nhiều đồ đồng của họ Trần phụng cúng cho chùa, có thể suy đoán đức ông Trần Thượng Xuyên là một trong những vị Tổ khai sơn chùa Thanh Lương cách nay trên 300 năm” .
Theo ghi chép trong Địa Bạ tỉnh Biên Hòa thì chùa Thanh Lương có trễ nhất là vào năm 1836. Địa bạ chép:
TÂN LẠI xã, ở xứ Ấp Đường.
-Đông giáp thôn Bình Thành, có lập cột gỗ làm giới, lại giáp phường Bạch Khôi (Phước Vinh Trung), có lập cột gỗ làm giới.
-Tây giáp phường Bạch Khôi (Phước Vinh Trung), có lập cột gỗ làm giới.
-Nam giáp sông lớn, lấy giữa lòng sông làm giới.
-Bắc giáp thôn Bình Điện, phường Bạch Khôi (Phước Vinh Trung), có lập cột gỗ làm giới.
+Thực canh ruộng đất 50.1.11.6 :
* Điền tô điền 22.8.14.6 (24 sở và sư chùa Bửu Phong (thôn Đình Điện, Phước Vinh Trung đồng canh 0.1.7.5; sư chùa Thanh Lương, xã Mỹ Khánh, đồng canh 2.6.0.0, cộng chung 2.7.7.5).
- Đất trồng dâu, mía 27.2.12.0 (75 chủ và BXĐC 0.3.3.0).
- Dân cư thổ 6.1.0.0.
- Mộ địa 1 khoảnh.
- Đất gò đồi 1 khoảnh.
Theo hồi cố của các vị cao niên ở Tân Lại: xưa ông bà tổ tiên mướn đất nộp tô cho chùa Thanh Lương đễ lo Phật sự, về sau đất dược quy hoạch xây trường học, nhà Chùa có nhận tiền đền bù…
2. Khảo tả bài vị:
Vì vốn là nhà thờ gia tộc nên từ xưa ở bàn thờ hậu Tổ, nhà chùa thờ bài vị của Tộc Trần. Mùa hạ năm Ất Mùi (2015) chúng tôi mời Học giả Lý Việt Dũng viếng chùa, thắp hương bàn thờ hậu Tổ, cung kính xin phép được chiêm bái; sau đó Học giả Lý Việt Dũng đã sao chép nội dung, phiên âm, dịch nghĩa, phân tích 02 bài vị chính.
1. Bài vị I:
Nguyên văn:
陳正合之神位
公乃係廣東省高州府吳川縣南三都五甲田頭村人氏
顯考行二諱幾聖字上川之靈
生於乙未年十一月初三日酉時
卒於��辰年正月初八日未時
於戊子年十一月十六日辰時塟於鎮户美禄山坐乾向巽兼庚戌甲辰分金
Tạm dịch:
Thần vị của Trần Chính Hiệp (Trần Thượng Xuyên)
Công là người thuộc thôn Điền Đầu, giáp Ngũ, đô Nam Tam, huyện Ngô Xuyên, phủ Cao Châu, tỉnh Quảng Đông.
Đây là linh vị của người cha quá cố của tôi thuộc hàng thứ hai trong gia đình, tên húy là Kỷ Thánh, tên tự là Thượng Xuyên. Sanh giờ Dậu ngày mồng ba tháng 11 năm Ất Mùi乙未 (1655). Mất giờ Mùi ngày mồng 8 tháng giêng năm Canh Thìn庚辰 (1700). Vào giờ Thìn , ngày 16 tháng 11 năm Mậu Tí戊子 (1708), được táng ở núi Mỹ Lộc Trấn Hộ nằm theo chiều Kiền hướng Tốn gồm cả phân kim Canh Tuất Giáp Thìn.
2. Bài vị II:
Nguyên văn:
陳正合之神位
公乃係廣東省高州府吳川縣南三都五甲田頭村人氏
顯考行三諱聖音字國鼎號誠菴府君之靈
生於丙申年三月二十五日申時
終於丙申年五月初九日戌時
戊戌年三月十一日寅時寄於鎭户美祿村��焒處坐艮向坤
兼寅申癸丑癸未分金
Tạm dịch:
Thần vị của Trần Chính Hiệp (Trần Quốc Đỉnh)
Công là người thuộc thôn Điền Đầu, giáp Ngũ, đô Nam Tam, huyện Ngô Xuyên, phủ Cao Châu, tỉnh Quảng Đông.
Đây là linh vị của người cha quá cố của tôi thuộc hàng thứ ba trong gia đình, tên huý Thánh Âm, tên tự là Quốc Đỉnh, hiệu là Thành Am. Sanh giờ Thân ngày 25 tháng 3 năm Bính Thân 丙申 (1656), mất giờ Tuất ngày mồng chín tháng năm, năm Bính Thân 丙申 (1716).
Vào giờ Dần ngày 11 tháng 3 năm Mậu Tuất 戊戌 (1718) được táng ở xứ Đá Lửa, làng Mỹ Lộc, Trấn Hộ, nằm chiều Cấn hướng Khôn, luôn cả phân kim Dần Thân, Quí Sữu, Quí Mùi.
(*) Chữ nôm “đá” thường được viết là �� thay vì 烙 theo nguyên bản.
v Hai bài vị trên đều có đầy đủ “Bát tự” và “Sanh Thần Thiếp”
Trong văn hóa truyền thống Trung Hoa, việc ghi chép và giữ gìn thông tin về ngày tháng năm sinh (thường được gọi là Sanh thần - 生辰) là một việc cực kỳ quan trọng, đặc biệt là với những người đi xa quê hương (di dân, thương buôn, hoặc quan lại).
Dưới đây là những lý do và hình thức ghi chép mà người xưa thường mang theo:
1. "Bát Tự" (八字) – Tờ giấy hộ mệnh tâm linh
Người Trung Hoa xưa tin rằng ngày, giờ, tháng, năm sinh (tổng cộng là 8 chữ, nên gọi là Bát Tự) quyết định vận mệnh của một con người. Khi đi xa, họ thường mang theo một mảnh giấy ghi Bát Tự của mình vì:
· Xem phong thủy/vận hạn: Để khi đến nơi ở mới, họ có thể nhờ thầy xem có hợp đất, hợp hướng hay không.
· Cưới hỏi: Nếu họ lập gia đình tại nơi đất khách, Bát Tự là thứ bắt buộc để "so tuổi" (hợp hôn) với đối phương.
2. Ghi chép trong gia phả (家谱) hoặc bản sao chi nhánh
Đối với những dòng họ lớn, khi một nhóm người di cư (ví dụ người Minh Hương vào Việt Nam), họ thường mang theo một bản sao gia phả hoặc "Bố bặc" (tờ vải ghi chép).
· Trong đó không chỉ ghi ngày sinh của họ mà còn ghi rõ địa danh cố hương để đảm bảo sau này con cháu không quên gốc gác để tìm về (Vấn tổ tầm tông).
Sau khi biết được nội dung 2 bài vị trên, khoảng 1 tháng sau chúng tôi trở lại Chùa, xin phép Thầy trụ trì được truy tìm xem còn bài vị nào liên quan với Tộc Trần không, thì quả nhiên tìm thêm được 2 bài vị.
3. Bài vị III:
Nguyên văn:
奉 為 顯 考 襄 愍 總 兵 定 遠 侯 次 公 府 君 神 位.
Phiên âm: Phụng vị hiển khảo Tương Mẫn Tổng binh Định Viễn Hầu thứ công phủ quân thần vị.
Tạm dịch: Bài vị người cha thuộc hàng thứ, lãnh chức Tổng binh, thụy là Tương Mẫn, tước Định Viễn hầu.
Ø Khi so sánh, ráp nối phân tích các tư liệu mà chúng tôi có được; thì bài vị này chính là của Tướng quân Trần Đại Định, vì có tên thụy là “Tương Mẫn” trùng hợp với tư liệu chép trong Đại Nam thực lục tiền biên: ”Chúa rất thương, truy tặng Đô đốc Đồng tri, thụy là Tương Mẫn.”
Về tước “Định Viễn Hầu” trong bài vị khác biệt với tước “Định Sách Hầu” ghi chép trong Gia Định Thông chí; chúng tôi cho rằng việc có nhiều các tước hiệu của một nhân vật lịch sử là chuyện thường gặp trong lịch sử; ví dụ như Thống xuất Nguyễn Hữu Cảnh (Kính). Ông được ghi chép trong nhiều tài liệu với các tước hiệu: Lễ Thành Hầu, Lễ Tài Hầu, Tráng Hoàn hầu, Vĩnh An Hầu.
Theo thiển nghĩ chủ quan của chúng tôi thì tước “Định Viễn Hầu” chính là tước hiệu chính của Ông, vì nó được ghi trên “bài vị” trong nhà thờ tộc, và tước hiệu này này không chỉ là một danh hiệu quý tộc mà còn là sự ghi nhận cho một sự nghiệp lẫy lừng mang tính khai phá.
· Định (定): Có nghĩa là bình định, ổn định, làm cho yên ổn.
· Viễn (遠): Nghĩa là phương xa, vùng biên thùy hoặc các quốc gia ngoài lãnh thổ.
· Hầu (侯): Cấp bậc cao thứ hai trong hệ thống ngũ đẳng tước (Công, Hầu, Bá, Tử, Nam).
· Ý nghĩa: "Vị Hầu tước có công bình định vùng đất phương xa". Tước hiệu này gắn liền với danh tướng nổi tiếng Ban Siêu, một danh thần đời Đông Hán (32-102), đi sứ “Tây Vực” 西域 người đã dành hơn 30 năm cuộc đời mình để thu phục hơn 50 nước nhỏ ở Tây Vực về với nhà Hán mà không cần dùng đến đại quân từ chính quốc; rất có thể Ông được phong tước Định Viễn Hầu定遠侯với ý nghĩa trên.
4. Bài vị IV:
Nguyên văn:
顯 考 諱 大 力 號 文 方 丑 才 侯 陳 公 靈 位.
Phiên âm: Hiển khảo húy Đại Lực hiệu Văn Phương Sửu Tài hầu Trần công linh vị.
Tạm dịch: Linh vị người cha họ Trần húy Đại Lực, hiệu Văn Phương, tước Sửu Tài hầu.
Bài vị này có ghi thông tin : “Đại Lực” và “Sửu Tài hầu”; vậy theo các tài liệu thư tịch đã dẫn ở trên thì đây chính là bài vị của Tướng Trần Đại Lực người hiện còn ngôi mộ (số 9) trên núi Bình San, Hà Tiên.
Chữ Sửu 丑 trong tước hiệu của ông không phải là nghĩa xấu. Nó có thể liên quan đến năm sinh (Sửu) của ông, kết hợp với chữ Tài (才) tạo thành một mỹ hiệu dành cho một bậc công thần có tài cán.
* Sửu : 丑khi dùng để chỉ chi thứ 2 trong 12 địa chi, thì rất có thể ông sinh năm Sửu và phải trước thời điểm cha mất (1732): Kỷ Sửu 1709 hoặc Tân Sửu 1721.
NHẬN ĐỊNH CHUNG:
Xét theo nội dung các bài vị trên chúng tôi đi đến kết luận:
Các bài vị lần lượt :
1- Số I : tướng Trần Thượng Xuyên.
2- Số III : tướng Trần Đại Định.
3- Số IV : tướng Trần Đại Lực.
Riêng bài vị số II: Ông Thánh Âm, tên tự là Quốc Đỉnh, hiệu là Thành Am, thì chúng tôi chưa từng thấy xuất hiện trong các tài liệu đã dẫn. Ban đầu chúng tôi đặt nghi vấn Ông Trần Quốc Đỉnh là phó tướng Trần An Bình được chép trong Gia Định thành thông chí:
“Tháng 4 mùa hạ năm thứ 32, Kỷ Mùi (1679) (Lê Hy Tông niên hiệu Vĩnh Trị thứ 4, Đại Thanh Khang Hy thứ 18), quan Tổng binh thủy lục trấn thủ các xứ ở Long Môn thuộc Quảng Đông nước Đại Minh là Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tấn, quan Tổng binh trấn thủ các châu Cao, Lôi, Liêm là Trần Thắng Tài, phó tướng Trần An Bình dẫn quân và gia nhân hơn 3000 người cùng chiến thuyền hơn 50 chiếc xin được vào Kinh bằng hai cửa Tư Dung và Đà Nẵng…”
Nhưng ngoài đoạn ghi chép trên thì chúng tôi chưa hề thấy tên phó tướng Trần An Bình được xuất hiện thêm lần nào trong các tài liệu mà chúng tôi thu thập được; nên không dám đoán định Trần An Bình là Trần Quốc Đỉnh.
Hàng năm, chùa Thanh Lương và Ban quý tế đình Tân Lân ngoài lệ giỗ Đức Ông Trần Thượng Xuyên dựa theo ghi chép trên bài vị ghi ngày : mồng 8 tháng giêng, còn có lệ giỗ Ông Trần Quốc Đỉnh theo ghi chép trên bài vị là ngày mồng 9 tháng 5. Các vị cao niên trong trong đình Tân Lân thường gọi và “giỗ Ngài Tam Xá là em thứ ba của Đức Ông”.
Theo bản dịch của Thầy Lý Việt Dũng: bài vị I và tính được Thượng Xuyên Công sinh ngày 3 tháng 11 năm 1655 (Ất Mùi), còn bài vị II chép ông Quốc Đỉnh sinh ngày 25 tháng 3 năm 1656 (Bính Thân), vậy sinh sau Thượng Xuyên Công chưa tới 5 tháng; như vậy 2 người chỉ có thể là anh em cùng cha khác mẹ hoặc anh em trong Họ tộc.
III- Gia phả tộc Trần ở thôn Điền Đầu, trấn Nam Tam, khu Pha Đầu, thành phố Trạm Giang, Quảng Đông, Trung Quốc.
Cơ duyên đến, ngày 27.10. 2025 chúng tôi được công ty TNHH Du lịch và Dịch vụ Sài Gòn Hoàn Cầu liên hệ cho biết là có Đoàn tông thân Tộc Trần hậu duệ của Đức Ông ở Quảng Đông, Trung Quốc cần trao đổi thông tin trước khi đến Việt Nam. Trong quá trình trao đổi chúng tôi có đề nghị Đoàn khi qua viếng, xin mang theo gia phả cho chúng tôi chiêm bái.
Thứ bảy ngày 29.11.2025 (tức ngày mồng 10 tháng10 năm Ất Tỵ), đình Tân Lân và Thân tộc Họ Trần Thượng ở Việt Nam được vinh hạnh đón đoàn Tông Thân Họ Trần thôn Điền Đầu, trấn Nam Tam, khu Pha Đầu, thành phố Trạm Giang, Quảng Đông, Trung Quốc đến viếng.
Họ có mang theo 2 cuốn gia phả cổ, ông Trần Khang Tân trưởng thôn và ông Trần Thiếu Kiệt- tộc trưởng chi, vui vẻ cho chúng tôi sao chụp lại bản gốc và gởi tặng thêm 2 bộ photo gia phả được khâu bìa, đóng gói trang trọng .
1- Cuốn thứ nhất, đầu trang có ghi:
忠 烈 世 家
Hàng dọc bên phải: 崇 禎 戊 寅 年 仲 春 吉 日 旦.
Hàng dọc bên trái: 賜 進 士 刑 部 主 事 郞太 九 係 遂 立.
Phiên âm:
Trung Liệt Thế Gia.
Sùng Trinh Mậu Dần niên (1638) trọng xuân cát nhật đán.
Tứ Tiến sĩ Hình bộ Chủ sự Lang thái Cửu Hệ Toại lập.
Trang kế ghi: 湛江南三田頭村南房下長支族譜.
Dịch: Nam Phòng hạ trưởng chi tộc phả tại thôn Điền Đầu, Nam Tam, Trạm Giang.
2- Cuốn thứ hai: 湛江南三田頭村中房下次支族譜.
Dịch: Trung phòng hạ thứ chi tộc phả tại thôn Điền Đầu, Nam Tam, Trạm Giang.
I- NAM PHÒNG HẠ TRƯỞNG CHI TỘC PHẢ.
Ghi chép về Trần Thượng Xuyên được thấy trong cuốn thứ nhất: Nam Phòng hạ trưởng chi tộc phả (từ đây xin gọi tắt là “Nam Phòng Tộc Phả” )
Trang bìa trình bài bốn chữ đại tự: 忠 烈 世 家 (Trung Liệt Thế Gia)
Theo văn bia lời tựa, lần tu sửa tộc phổ quy mô lớn đầu tiên của họ Trần làng Điền Đầu là vào năm Gia Khánh thứ 3 (1798), sau đó tiếp tục được tu bổ Đạo Quang thứ 5 (1825)… Tộc phổ được dân làng sao chép nhiều lần và lưu giữ tại các hộ gia đình.
Họ Trần làng Điền Đầu chia thành ba phòng; mỗi phòng lại có nhiều chi phái. Trong đó, cuốn chi phổ “Nam phòng Tộc Phả” đã ghi chép chi tiết về hệ thống truyền thừa của gia tộc Trần Thượng Xuyên.
1- Trang đánh số 15 : Sự tích Đức Ông Trần Thượng Xuyên được ghi chép trang trọng, tán dương công lao của Ông đối với gia tộc:
Nguyên văn:
立功祖列后.
上川公為安南侯,係三甲田頭房十七世孫。因乾塘大宗祠舊滿,規模稿狹,公在廣南府居官總鎮狪狔,思念祖宗,寄金拾条歸本,修建太祖宗廟後方。倒舊祠大新建,增其式廊。尚剩餘金買田瞻祀。後公卒,合眾公議,配享太祖,資政義畧,是公之牌位,居功之首也。
Phiên âm:
Lập công Tổ liệt hậu.
Thượng Xuyên Công vi An Nam Hầu, hệ Tam Giáp Điền Đầu phòng thập thất thế. Nhân Càn Đường đại tông từ cựu mãn, quy mô cao hiệp. Công tại Quảng Nam phủ cư quan tổng trấn Đồng Nai, tư niệm tổ tông, ký kim thập điều quy bản, phủ kiến thái tổ tông miếu hậu phương. Đảo cựu từ đại tân kiến, tăng kỳ thức lang. thượng thặng dư kim mãi điền chiêm tự. Hậu Công tốt, hợp chúng công nghị, phối hưởng thái tổ, tư chánh nghĩa lược, thị công chi bài vị cư, công chi thủ dã.
Tạm dịch:
Lập công lao, rạng danh dòng tộc nên khi mất đi được đưa vào từ đường thờ tự.
Thượng Xuyên Công giữ tước An Nam Hầu, là cháu đời thứ 17 của phòng Điền Đầu thuộc Tam Giáp. Vì đại tông từ ở Càn Đường [Ngô Xuyên, Quảng Đông] đã cũ và chật hẹp, nên khi đang làm Tổng trấn tại Đồng Nai 狪狔 phủ Quảng Nam廣南府, Ông đã đem lòng nhớ về tổ tiên mà gửi 10 thỏi vàng về quê nhà để xây dựng lại tòa hậu phương của thái tổ miếu. Họ tộc đã cho dỡ bỏ từ đường cũ để xây mới quy mô hơn, mở rộng thêm hành lang. Số tiền còn dư được dùng để mua ruộng tế tự (chiêm tự điền). Sau khi Ông mất, toàn thể dòng họ đã bàn bạc và đồng ý cho ông được thờ phối hưởng tại nhà thờ Thái Tổ. Bài vị của ông được đặt ở vị trí trang trọng nhất vì ông là người có công đầu trong việc kiến thiết nhà Thờ Tổ này.
Phần ghi chép về gia đình Trần Thượng Xuyên, tại trang 130 & 131:
v Đời thứ mười sáu [tức là đời cha Trần Thượng Xuyên]:
Tạm dịch:
[Tên] Mạnh Trị 孟治, hiệu Đức Chương 德彰, thụy Thành Ái 誠愛.
Táng tại Đông Lãnh 東嶺 thuộc thôn Trịnh Ốc Lãnh 鄭屋嶺村, huyệt tọa Bắc hướng Nam, có lập bia chí.
Lấy Vương thị 王氏, táng tại Giang Vĩ Lãnh 江尾嶺 thuộc Hồng Khảm Tỉnh Đầu 紅坎井頭, huyệt tọa Quý hướng Đinh.
Sinh ra 2 trai là Đình Xuyên 廷川 và Thượng Xuyên 上川.
v Đời thứ mười bảy [tức là đời Trần Thượng Xuyên]:
Nguyên văn:
上川:
號義略,諡資正。年越數歲,賦質岐㠜。壯懷遠志,有韜略之才能。始自康熙初年,船海銅柱,功成威鎮南蠻,封侯萬里。總制三邊,鎮守狪狔。慨慷仗義,尊祖敬宗,奉金歸本,建祠配享大宗。公卒,傳位與弟聖音公,建立安慶寺狪狔港口。今川公特享安慶寺。元娶謝氏,次妻洗氏,無子,合葬狪狔山。
Tạm dịch:
Thượng Xuyên 上川:
Hiệu Nghĩa Lược 義略, thụy Tư Chính 資正.
Ngay từ thuở nhỏ đã thông minh xuất chúng, khí độ phóng khoáng, chí hướng cao xa, có tài thao lược. Thời sơ Khang Hy, ra khơi vượt biển, lập công nơi vùng Đồng Trụ [tức cõi An Nam], oai chấn Nam Man 南蠻, được phong hầu vạn dặm, tổng quản Tam Biên 三邊, trấn thủ Đồng Nai 狪狔. Khí tiết hào sảng, thuận tòng nghĩa lớn, tôn kính tổ tiên, “phụng kim quy bổn 奉金歸本” (quyên góp vàng bạc cung kính gởi về cố hương) để lập từ đường, được phối hưởng trong dòng trưởng [họ Trần] Đại Tông. [Thượng Xuyên] công mất, chức vị được trao lại cho đệ 弟 [em trai] là Thánh Âm công 聖音公. Thánh Âm công lập chùa An Khánh 安慶寺 tại cảng khẩu Đồng Nai, nay Thượng Xuyên công được đặc hưởng thờ phụng tại ngôi chùa này.
Trước lấy Tạ thị 謝氏, sau lấy Tiển thị 冼氏, không con [vô tử 無子]. Hợp táng tại vùng sơn lãnh Đồng Nai.
Nhận định:
v Theo trên thì Thượng Xuyên Công là người con trai thứ hai trong gia đình, trùng khớp với nội dung trong bài vị ở chùa Thanh Lương 顯考行二, Tộc phả không ghi năm sinh năm mất, và Ông không có em trai ruột! như thế, khi ông mất “ chức vị được trao lại cho đệ 弟 [em trai] là Thánh Âm công 聖音公. Như vậy Ông Thánh Âm là em Họ, và cùng thế hệ thứ 17 trong gia tộc; Nhưng trong ghi chép các trang còn lại ngoài 2 trang 130 & 131, tuyệt nhiên không thấy chép về Thánh Âm công 聖音公 trong “Nam phòng Tộc Phả”, và phả ghi “trước lấy Tạ thị 謝氏, sau lấy Tiển thị 冼氏, không con [vô tử 無子]. Hợp táng tại vùng sơn lãnh Đồng Nai. Như vậy ngôi mả của Thượng Xuyên Công được thờ cúng trên vùng Tân Uyên, theo như phả chép là “mả hợp táng”, và tướng Trần Đại Định không phải con ruột của Thượng Xuyên Công ! ( có thể là con Quá kế 過繼, theo tập tục ở cố hương.)
II- TRUNG PHÒNG HẠ THỨ CHI TỐC PHẢ.
Ghi chép về Trần Thánh Âm được thấy trong cuốn thứ nhì: Trung phòng hạ thứ chi tộc phả (từ đây xin gọi tắt là “Trung Phòng Tộc Phả”)
Phần ghi chép về gia đình Trần Thánh Âm trang 49, 50 và 51 chép:
v Đầu trang 49:
Nguyên văn:
今將田頭村中房下六支。
祖東川公遺下。
公遴公嫡脉,聖音公派下十七世至二十一世圖。
Phiên âm:
Kim tương Điền Đầu thôn Trung Phòng hạ lục chi. Tổ Đông Xuyên Công di hạ. Công Lân Công đích mạch, Thánh Âm Công phái hạ thập thất thế chí nhị thập nhất thế đồ.
Tạm dịch:
Nay chép về Chi thứ 6 thuộc Trung Phòng, làng Điền Đầu. Di duệ của Tổ Đông Xuyên Công; dòng đích của cụ Công Lân, phả đồ từ đời thứ 17 đến đời thứ 21 của nhánh cụ Thánh Âm.
Kế tiếp ghi về Thánh Âm Công.
v Đời thứ mười bảy [tức là đời Trần Thánh Âm]:
Nguyên văn:
聖音:
貢生,字國鼎,號誠菴,諡剛定。
公康熙初年,屢被海寇搔擾,卜遷吳川之蜆殼埠,帶二弟同居營。五灝公於白水塘,其龍自接官亭與縣龍分枝,迢迢邁邁,至霞街馬鞍山起火。祖峯形左右倉庫,前官後鬼,三台朝拱,��象捍門,留待天公所賜也。已但外次纏護,水東而直,堪輿家謂「離鄉發迹」。
壬申、癸甲、戌,瑞昌公降,為公為本營遊府幕師。往省辦公,接得外國上川公家信,遂與族姓咸真、首魁公仝航海焉。未幾數月,川公癰發背卒。首魁公携金音觀回家,公遂踐其位,總鎮狪狔。
今支派流衍南邦,貴顯者代不乏人。離鄉發迹,此其騐也。本處子孫頗有二三青衿者,何莫非公之德澤所貽。術家謂:「午峯桂榜,汐不高聳,未能開科發甲。」豈其然與?寔後人不克自振拔,以光前烈耳。
娶鄭氏,諡恭慎,塟鄧屋嶺,坐辛向乙。生三子:瑞禎、瑞昌、瑞祥。宦安南,娶楊氏,與公合葬狪狔山。生二子:瑞道、瑞蕃。此二公今支派流衍南邦。
Tạm dịch:
Thánh Âm 聖音: [xuất thân] cống sinh 貢生, tự Quốc Đỉnh 國鼎, hiệu Thành Am 誠庵, thuỵ 剛定 Cang Định.
Vào những năm đầu thời Khang Hy (nhà Thanh), Công (ông) thường xuyên bị hải tặc quấy nhiễu, bèn bói quẻ rồi dời đến bến Hiện Xác thuộc Ngô Xuyên, đưa hai người em cùng đến cư ngụ tại doanh. Phần mộ Ngũ Hạo Công (cha Thánh Âm Công) nằm ở đầm Bạch Thuỷ; long mạch của nó tách nhánh từ trạm Tiếp Quan cùng với mạch rồng của huyện, đường đi thăm thẳm xa xôi, đến núi Mã Yên ở phố Hà mới khởi hoả (nổi lên hình thế sắc nhọn, mạnh mẽ). Hình thế núi tổ có các kho báu, kho thóc (thế núi tròn trịa, đầy đặn) ở hai bên trái phải; phía trước có quan (núi án), phía sau có quỷ (núi tựa); ba đài triều củng; thế sư tử và voi trấn giữ cửa, đó là huyệt đất để dành chờ trời ban cho vậy. Tuy nhiên, bên ngoài mạch bao bọc lại có dòng nước chảy về phía Đông và đi thẳng, nên các nhà phong thuỷ gọi đó là thế 'rời khỏi quê hương mới phát đạt'."
Năm Giáp Tuất 甲戌 , Công sinh ra 1 trai là Thuỵ Xương 瑞昌. Tại doanh 营 này, Thánh Âm công giữ việc phụ tá / cố vấn trong phủ Du [Kích] 游[擊]府 thuộc dinh Ngô Xuyên với vai trò mạc sư 幕師 [mạc sư còn gọi là mạc hữu 幕友 - nghĩa là người phụ tá dân sự không có chức quan chính thức, được quan lại thời Minh – Thanh (và cả các thời sau) thuê riêng để giúp xử lý các công việc hành chính, pháp luật, tài chính, và văn thư. Chức Mạc Hữu không thuộc biên chế nhà nước, nhưng lại giữ vai trò rất quan trọng trong hoạt động của nha môn — giống như cố vấn, trợ lý chuyên môn hoặc thư ký riêng của quan].
[Khi] Thánh Âm công [từ địa phương] lên tỉnh lỵ để thi hành việc công đường, thì nhận được thư nhà của Thượng Xuyên công gửi về. Thánh Âm công [vì vậy mà] cùng người cháu trong tộc họ là cống sinh Thủ Khôi 首魁 cùng vượt biển [mà sang Nam bang]. Chỉ vài tháng sau, Thượng Xuyên công phát ung nhọt ở lưng mà mất; Thủ Khuê công bèn mang tượng Quan Âm bằng vàng về nước; còn Thánh Âm công thì kế vị chức vụ của Thượng Xuyên công, giữ chức Tổng trấn Đồng Nai狪狔.
Ngày nay, các chi phái của dòng [Thánh Âm công] này đều đã lan rộng ở Nam bang, đời nào cũng có người hiển đạt. Việc ly hương lập nghiệp, đây chính là bằng chứng rõ ràng vậy.
Thánh Âm công lấy Trịnh thị 鄭氏, thuỵ Cung Thận 恭慎, táng tại Đặng Ốc 鄧屋, huyệt tọa Tân hướng Ất.
Sinh ra 3 trai là: Thuỵ Trinh 瑞禎, Thuỵ Xương 瑞昌, và Thuỵ Tường 瑞祥.
Lúc làm quan tại An Nam, Thánh Âm công [lại] lấy Dương thị 楊氏, [bà] cùng Công hợp táng tại vùng sơn lãnh Đồng Nai. Sinh ra 2 trai là: Thuỵ Đạo 瑞道 và Thuỵ Phiền 瑞蕃. Hiện chi phái Thuỵ Đạo và Thuỵ Phiền đang ở khắp Nam bang.
Nhận định:
v "Thánh Âm Công" chép trong “Nam phòng Tộc phổ” chính là Thánh Âm trong “Trung phòng Tộc phổ”, là hậu duệ đời thứ 17 thuộc chi “Trung phòng Hạ thứ” của "Trần thị Tiểu tông" ở thôn Điền Đầu, cùng thế thứ với Trần Thượng Xuyên nhưng thuộc hai phòng khác nhau. “Nam phòng Tộc phổ” chép Thánh Âm là em (弟) của Thượng Xuyên Công, thực chất là em họ cùng tông tộc (đường đệ 堂弟) của Thượng Xuyên Công.
v Và theo “Trung phòng Tộc phổ”, thì Trần Thánh Âm nguyên là viên mạc liêu (幕僚) trong phủ Du Kích dinh Ngô Xuyên. Sau khi nhận được thư của Trần Thượng Xuyên, Thánh Âm vượt biển sang Đồng Nai. Không lâu sau khi Thánh Âm đến thì Thượng Xuyên qua đời; Thánh Âm kế nhiệm chức vụ của Thượng Xuyên, trở thành tổng trấn Đồng Nai 狪狔. Ở đây Ông có thêm 1 vợ, sinh hai con trai và hậu duệ lưu lại phát triển ở Đại Việt支派流衍南邦.
Việc Trần Thánh Âm làm tổng trấn Đồng Nai cũng được thấy trong các ghi chép của văn nhân Quảng Đông thời Thanh. Trong mục "Tạ Xương tử Cao Miên quốc" trong sách “Ngũ Sơn chí lâm” do La Thiên Xích (người Thuận Đức) soạn vào thời Càn Long có viết:
Nguyên văn:
謝昌死高綿國。
康熙丙辰,蕃禺謝厥扶奉藩委爲顺鎮總兵,平南, 從逆,旋反正,調厥扶,不從,戰於叠石海,被殺。子謝昌,字允文,遂㩦家入海,居海陵島中,新會、顺德村鄉大遭殘毁。總兵蔡璋征之,搗其巢穴,昌遂飄入安南國,國王不納,飄高綿國,即海賈所稱江播樜也。後邑人陳石樵至侗伲,爲邊鎮陳誠菴上客。誠菴誕,高綿國王遣使��壽,中有使者,身著花衣冠鬼㡌,類不似番人。石樵詢之,果番禺市桥黎姓也。說從謝將軍到彼國,初王甚喜,授以一官。後被王婿所譖,謂此人終非地方福,殺之,麾下願爲官與農者聽。今尙有一姓翁亦爲番官。謝昌當日出海,人和之,死于高綿則人不和也。
Dịch nghĩa:
Năm Khang Hy Bính Thìn (1676), người Phiên Ngung 番禺 tên là Tạ Quật Phù 謝厥扶 được triều đình bổ nhiệm làm tổng binh Thuận Trấn 順鎮.
Khi loạn Bình Nam 平南 nổi lên [nhà Bình Nam Vương Thượng Khả Hỷ] , Phù từng theo giặc [làm loạn], rồi sau lại quay về hàng thuận triều đình [Thanh triều]. [Nhưng về sau], khi triều đình điều động, Quật Phù không tuân mệnh, giao chiến tại biển Điệp Thạch 叠石海, bị giết tại trận.
Con [Phù] là Tạ Xương 謝昌, tự Doãn Văn 允文, bèn mang cả gia quyến ra biển, cư trú tại đảo Hải Lăng 海陵. Khi ấy, các làng xã thuộc Tân Hội 新會 và Thuận Đức 順德 đều bị tàn phá nặng nề. Tổng binh Thái Chương 蔡璋 được phái đi chinh phạt, phá tan sào huyệt của họ. [Vì vậy mà] Tạ Xương bèn trôi dạt đến nước An Nam 安南, nhưng vua An Nam không cho vào, lại trôi dạt tiếp đến nước Cao Miên 高綿, tức là vùng Giang-Bá-Chá 江播樜 [Kambuja - Campuchia] mà các thương nhân hải ngoại thường gọi như vậy.
Về sau, có người cùng huyện là Trần Thạch Tiều 陳石樵 đến vùng Đồng Nễ 侗伲 [Đồng Nai], trở thành thượng khách của viên Biên Trấn Trần Thành Am 邊鎮陳誠菴.
Dịp mừng thọ [Trần] Thành Am, vua nước Cao Miên sai sứ sang chúc thọ; trong đoàn sứ có một người mặc áo hoa (花衣), đội mũ quái dị (鬼帽), trông không giống người Phiên Di.
Thạch Tiều hỏi ra, quả nhiên là người họ Lê ở cầu chợ Phiên Ngung 番禺市橋.
Người ấy kể rằng: Thuở xưa theo tướng quân họ Tạ sang Cao Miên, lúc đầu vua rất mừng, phong cho họ Tạ một chức quan. Về sau bị phò mã Cao Miên gièm pha với vua Cao Miên rằng: “Người này rốt cuộc chẳng phải là phước may của đất nước đâu”, nên vua Cao Miên cho giết đi. [sau đó] các bộ hạ dưới trướng [của Tạ Xương], ai muốn làm quan hay làm nông đều được tuỳ ý. Nay vẫn còn một người họ Ông cũng làm quan người Phiên (người dân tộc thiểu số/bản địa). Khi Tạ Xương ra khơi ngày đó, được lòng người ủng hộ (nhân hòa); nhưng khi chết ở Cao Miên là do lòng người không còn hòa hợp nữa…” .
· Việc Trần Thành Am giữ chức biên trấn Đồng Nai là do Trần Thạch Tiều – người đồng hương của La Thiên Xích thuật lại. Thạch Tiều từng đến Đồng Nai làm môn khách cho Trần Thành Am, nên tư liệu này có độ tin cậy khá cao. Mà sách “Trung phòng Tộc phổ” lại chép Trần Thánh Âm hiệu là Thành Am, và trong bài vị thứ II ở chùa Thanh Lương cũng ghi: tên huý Thánh Âm, tên tự là Quốc Đỉnh, hiệu là Thành Am諱聖音字國鼎號誠菴府君之靈; vậy Trần Thành Am trấn giữ Đồng Nai chính là Trần Thánh Âm, và bài vị thứ II ở chùa Thanh Lương là của Ông.
Trong tập Ngữ Sơn Đường Thi Sao (语山堂诗抄) xuất bản thời Ung Chính (1723–1735) có chép một bài thơ của Xà Tích Thuần (佘锡纯) , chúc mừng Tổng nhung Trần Thành Trai ở An Nam (祝安南诚斋陈总戎), được Hàng Hành (航行) phân tích và giới thiệu. Hành Hành cho rằng Tổng Nhung Trần Thành Trai chính là Trần Thượng Xuyên.
Nguyên văn bài thơ:
极星遥望出殊方,马援威名老更强。天宅南交分内外, 地归秦郡共阴阳。功成薄海膺茆土, 月上寒山忆粤乡。家世儒冠明将略, 敦诗犹带旧风光。
· Phiên âm:
Cực tinh dao vọng xuất thù phương,
Mã Viện uy danh lão cánh cường.
Thiên trạch Nam Giao phân nội ngoại,
Địa quy Tần quận cộng âm dương.
Công thành bạc hải ưng mão thổ,
Nguyệt thượng hàn sơn ức Việt hương.
Gia thế nho quán minh tướng lược,
Đôn thi do đới cựu phong quang.
· Dịch nghĩa:
Từ phương xa trông về phía sao Bắc Cực (biểu tượng cho nhà vua/trung tâm), ông xuất hiện từ một vùng đất khác lạ.
Uy danh của ông như Mã Viện năm xưa, càng già càng mạnh mẽ.
Mệnh trời định vùng Nam Giao (An Nam) phân chia trong ngoài,
Đất đai quy về như quận huyện thời Tần, cùng chung một khí tiết.
Công lao to lớn trải khắp biển khơi, xứng đáng được phong đất phong hầu,
Trăng lên trên núi lạnh, gợi nhớ về quê hương Quảng Đông (Việt hương).
Gia đình vốn dòng dõi nhà Nho lại thông hiểu mưu lược tướng quân,
Dù giữ nghiệp võ nhưng vẫn mang theo nét phong nhã, thanh cao của kẻ sĩ năm xưa.
Có thể Hàng Hành xét theo các tư liệu hiện lưu truyền phổ thông là tướng Trần Thượng Xuyên mất năm 1715 nên Ông cho nhân vật “ tổng nhung Trần Thành Trai” trong bài thơ trên là do Xà Tích Thuần năm xưa viết tặng tướng Trần Thượng Xuyên.
Nhưng nếu dựa theo thông tin trên bài vị số I và số II ở chùa Thanh Lương: Thượng Xuyên Công mất năm Canh Thìn (1700), và theo nội dung trong Tộc phả ở thôn Điền Đầu “…Thượng Xuyên công phát ung nhọt ở lưng mà mất;… Thánh Âm công [ Trần Thành Am] thì kế vị chức vụ của Thượng Xuyên công, giữ chức Tổng trấn Đồng Nai.
Và việc Trần Thánh Âm làm tổng trấn Đồng Nai cũng được thấy trong sách “Ngũ Sơn chí lâm” chép chuyện: “Biên Trấn Trần Thành Am 邊鎮陳誠菴 nhân ngày sinh nhật được chính vua Cao miên dẫn đoàn đến chúc thọ”.
Và vì sách “Ngũ Sơn chí lâm” trong tập “Ngữ Sơn Đường Thi Sao” xuất bản thời Ung Chính (1723–1735); vậy nên chúng tôi có thể nhận định : Tổng nhung Trần Thành Trai chính là Trần Thành Am (Thánh Âm).
Người kế vị: Sau khi ông mất (Bính Thân 1716) ai là người kế vị?
*Trong “Trung phòng tộc phả” (mà chúng tôi đang lưu giữ), từ trang 49 đến trang 54 ghi chép 5 người con trai của Thánh Âm Công:
1/ Thuỵ Trinh 瑞禎.
2/ Thuỵ Xương 瑞昌.
3/ Thuỵ Tường 瑞祥.
4/Thuỵ Đạo 瑞道.
5/ Thuỵ Phiền 瑞蕃.
*Khi đến Việt Nam ngày 29.11.2025 ngoài 2 bản gia phả photo, ông Trần Thiếu Kiệt tộc trưởng chi có trao cho chúng tôi 1 túi tài liệu, trong đó có 03 ảnh chụp 03 bài vị với nội dung chính:
1- Thần vị Thượng Xuyên Công (đệ nhất Việt Nam Vương).
2- Thần vị Thánh Âm Công (đệ nhị Việt Nam Vương).
3- Thần vị Thuỵ Xương Công ( đệ tam Việt Nam Vương).
*Dựa theo tài liệu này chúng tôi tìm ghi chép về nhân vật Thụy Xương trong “Trung Phòng Tộc phả”.
v Đời thứ mười tám [tức là đời Trần Thuỵ Xương瑞昌 ]:
Nguyên văn:
瑞昌
邑庠贡生,字燕夫,號思齋,諡文毅。公慷慨仗義,克纘先猷,威镇南蛮,封侯萬里,手著《南遊詩》一卷、《圍棋局》一册傳世。公業師顺德孝��芳洲梁文泗曽赞其像云:“皇图廣大,従古罕俦。北穷朔漠,南极海陬。爰有粤士,產自自高州。少负遠志,遠里封侯。廿龄航海,克缵先猷。春秋二十,治效全收。我観儀像,缓帶輕裘。金刀凛凛,鬼魅為仇。图书一卷,百萬貔貅。自古賢哲,随地而優。在外班馬,在内伊周。铜柱功成,早買歸舟。天朝虚左,待卜金甌。”
正娶李氏,謚貞慈,舆云仝塟山竹溝,坐巽向乾,生一女。宦安南,娶顏氏,謚恭愍,生二子:绍璪,绍瓓。又娶阮氏,生一子绍琮。
Dịch nghĩa:
Thuỵ Xương 瑞昌: (xuất thân) Ấp Tường Cống Sinh 邑庠貢生 [cống sinh xuất thân từ trường huyện], tự Yến Phu 燕夫, hiệu Tư Trai 思齋, thuỵ Văn Nghị 文毅.
Công là người hào sảng trọng nghĩa, nối chí tổ tiên, oai trấn Nam Man, được phong hầu vạn dặm. Công tự tay trước tác một quyển “Nam du thi 南遊詩” (thơ phương nam)và một tập “Vi kỳ cục 圍棋局”(thế cờ vây), đều được lưu truyền lại cho hậu thế. Công từng học với người Thuận Đức đỗ Hiếu liêm là Phương Châu- Lương Văn Tứ 芳洲梁文泗. Người này đã từng khen ngợi/đề từ vào bức chân dung, và làm bài thơ tán dương [dành cho bức chân dung] của Công rằng:
Dịch thơ:
Hoàng đồ rộng lớn ngàn thu,
Từ xưa hiếm thấy thiên khu sánh cùng.
Bắc cùng mạc ải mịt mùng,
Nam vờn mé hải, tận cùng trời xa.
Cao Châu đất Việt sinh ra,
Tuổi thơ ôm chí vượt qua ngàn trùng.
Hai mươi dong gió tung buồm
Nối dòng tiên tổ chí hùng chẳng phai.
Ba mươi nghiệp lớn trị khai,
Công danh rạng rỡ sớm tài đã nên.
Nhìn dung mạo, áo cừu mềm,
Đai lưng thong thả, gươm vàng sáng gương.
Thư đồ một quyển bên giường,
Triệu quân như hổ, sa trường vẫy vang.
Từ xưa hiền triết vẻ vang,
Ở đâu cũng bậc phi thường xuất thân.
Ra ngoài sánh kẻ Ban Quân,
Vào triều lại tựa Y Chu năm nào.
Đồng Trụ dựng giữa trời cao,
Sớm mua thuyền cũ, dạt vào cố hương.
Triều đình để trống ngai vàng,
Chờ người định mệnh, kim âu trọn đầy.
Công lấy chánh thất là Lý thị 李氏, thuỵ Trinh Từ 貞慈, hợp táng cùng công tại Sơn Trúc Câu 山竹溝, huyệt tọa Tốn hướng Càn, sinh ra 1 gái.
Khi làm quan ở An Nam, công lấy [bà] Nhan thị 顏氏, thuỵ Cung Mẫn 恭愍, sinh ra 2 trai là: Thiệu Tảo 紹璪 và Thiệu Lạn 紹瓓. Công lại lấy Nguyễn thị 阮氏, sinh ra 1 trai là Thiệu Tông 紹琮.
Nhận định:
v Qua ghi chép trong Tộc phả, khảo cứu tư liệu chúng tôi cho rằng: Thuỵ Xương người con thứ nhì của Thánh Âm công chính là người trong bài vị thứ III ở bàn thờ tộc Trần chùa Thanh Lương, Biên Hoà, Đồng Nai:
Tương Mẫn Tổng Binh Định Viễn Hầu 襄 愍 總 兵 定 遠 侯.
Vì trong số các con trai sinh tại Ngô Xuyên của Thánh Âm, người con thứ hai là Thuỵ Xương 瑞昌 cũng từng “làm quan ở An Nam”, và “oai trấn Nam Man, phong hầu vạn lý 威鎮南蠻,封侯萬里”; còn hai người con trai khác thì đều ở lại Ngô Xuyên. Tộc phả còn ghi chép những trước tác được truyền lại của Thuỵ Xương, cùng bài tán tượng 赞像 do Thầy của Thuỵ Xương là Lương Văn Tứ 梁文泗 người Thuận Đức soạn.
Bài tán có câu: “Hai mươi tuổi vượt biển, nối tiếp chí hướng của tổ tiên; ba mươi tuổi, công trị đã hoàn toàn thành tựu 廿齡航海,克纘先猷。春秋三十,治效全收”, từ đó có thể biết rằng Thuỵ Xương sang Việt Nam khi độ hai mươi tuổi, và đến tuổi ba mươi thì đã đảm nhiệm chức vụ quan lại, có nhiều thành tích chính trị.
Trong phần ghi chép về Thánh Âm công, Trung Phòng Tộc Phả cho biết rằng Thuỵ Xương sinh vào năm Khang Hy Giáp Tuất 康熙甲戌年 (tức năm thứ 33 đời Khang Hy- 1694). Theo lối tính tuổi hư tuế 虛歲 của người xưa, năm Thuỵ Xương hai mươi tuổi – tức thời điểm rơi vào khoảng năm Khang Hy 52~53 (1713~1714); Thuỵ Xương [nhiều khả năng] đã sang An Nam; và theo ghi chép Bát tự sinh thần (生辰八字) của Thánh Âm Công trong bài vị ở chùa Thanh Lương thì chỉ vài năm sau thì Thánh Âm Công mất (Bính Thân 1716); và Thuỵ Xương đã tiếp quản chức vị của Cha. “do chân Ấm tử, trải làm quan đến Thống binh”.
Và bài tán di tượng Thuỵ Xương còn viết: “Công dựng trụ đồng đã thành, sớm mua thuyền trở về; triều đình để ngôi tả trống, đợi người giữ trọn kim âu 铜柱功成,早买归舟。天朝虚左,待卜金瓯。” Việc Trung Phòng Tộc Phả chép rằng Thuỵ Xương hợp táng cùng chánh thất là Lý thị 李氏 tại Sơn Trúc Câu 山竹溝, Ngô Xuyên 吳川 dường như hé mở [cho ta biết] rằng sau khi lập công danh nơi đất Việt, Thuỵ Xương đã hồi hương.
Tuy nhiên, Trung Phòng Tộc Phả không nêu rõ Thuỵ Xương đã lập công gì tại An Nam và được phong tước hiệu nào.
Còn về hai người con trai khác của Trần Thánh Âm sinh tại Việt Nam là Thuỵ Phiên 瑞蕃 và Thuỵ Đạo 瑞道, thì trong đó Thuỵ Phiên sau khi qua đời được táng tại Hội An 會安, miền Trung Việt Nam; còn Thuỵ Đạo thì “chi phái hưng thịnh nơi Nam bang 支派蕃衍南邦”. Hai người này dường như không theo anh là Thuỵ Xương hồi hương, mà đều sống và mất tại Việt Nam.
v Trong Ngô Xuyên huyện chí “吳川縣志” biên soạn thời Quang Tự 光绪, cũng có ghi sơ lược về sự tích của cha con Thánh Âm, Thuỵ Trinh và Thuỵ Xương như sau:
Nguyên Văn:
又田頭村陳上音,康熙間流寓安南為顯宦。上音殁,其族弟聖音襲職。聖音長子瑞禎歸吳川為諸生。其及也,歲貢麥為儀輓以詩:「修文何太促,雲掩午晴初。未了一生事,猶存十櫃書。塵封徐榻冷,調古伯琴虛。搔首天難問,傾盃淚雨餘。」次瑞昌復襲安南職,著《南游詩集》卷、《圍棋局》一冊。順德舉人梁文泗贊其像:
新廣肽能結構地,窮朔漠南極海陬,爰有土產自高州。少員遠志,萬里封侯。廿齡航海,克獨猷。春秋三十,台效全收。我觀儀像,緩帶輕裘,金刀凜凜,鬼魅為仇。圖書一卷,百萬換貅。自古賢哲,隨地而優。在外班馬,在内伊周。銅柱功成,早賣歸舟。天朝虛左待。」
監待瑞昌從子紹璿,又名南來,字雁賓,工詩,為安南舉人。嘉慶間會歸吳川,其集曰《南來詩稿》。
Lại có Trần Thượng Âm 陳上音 người thôn Điền Đầu 田頭村, vào thời Khang Hy từng trôi dạt sang An Nam, được làm hiển quan 顯宦 [quan to]. Sau khi Thượng Âm mất, em trai trong tộc họ [tộc đệ 族弟] là Thánh Âm 聖音 kế thừa chức vụ ấy.
Trưởng tử của Thánh Âm là Thuỵ Trinh 瑞禎, [từ An Nam] trở về Ngô Xuyên, đỗ chư sinh 諸生. Khi mất, có người tuế cống tên Mạch Vi Nghi 麥為儀 làm bài thơ ai vãn rằng:
Dịch thơ:
Tu văn sao vội chia lìa,
Giữa trưa mây phủ, nắng kia vừa hừng.
Việc đời dang dở bao phần,
Mười rương sách cũ còn nằm lặng đây.
Giường Từ phủ bụi heo may,
Đàn xưa tiếng tắt giữa ngày hư không.
Ngẩng đầu hỏi đạo mênh mông,
Nghiêng chén lệ ứa, mưa dòng tiễn đưa.
Thứ tử (con thứ) của Thánh Âm là Thuỵ Xương 瑞昌, lại kế thừa chức vụ ở An Nam, có trước tác một quyển “Nam du thi tập 南遊詩集”, và một tập “Vi kỳ cục 圍棋局” (thế cờ vây).
Người cử nhân Lương Văn Tứ 梁文泗 ở Thuận Đức 順德 khi xem di tượng của Công [Thuỵ Xương 瑞昌] có làm bài tán dương rằng:
Dịch thơ:
Hoàng đồ rộng lớn ngàn thu,
Từ xưa hiếm thấy thiên khu sánh cùng.
Bắc cùng mạc ải mịt mùng,
Nam vờn mé hải, tận cùng trời xa.
Cao Châu đất Việt sinh ra,
Tuổi thơ ôm chí vượt qua ngàn trùng.
Hai mươi dong gió tung buồm
Nối dòng tiên tổ chí hùng chẳng phai.
Ba mươi nghiệp lớn trị khai,
Công danh rạng rỡ sớm tài đã nên.
Nhìn dung mạo, áo cừu mềm,
Đai lưng thong thả, gươm vàng sáng gương.
Thư đồ một quyển bên giường,
Triệu quân như hổ, sa trường vẫy vang.
Từ xưa hiền triết vẻ vang,
Ở đâu cũng bậc phi thường xuất thân.
Ra ngoài sánh kẻ Ban Quân,
Vào triều lại tựa Y Chu năm nào.
Đồng Trụ dựng giữa trời cao,
Sớm mua thuyền cũ, dạt vào cố hương.
Triều đình để trống ngai vàng,
Chờ người định mệnh, kim âu trọn đầy.
Cháu của Thuỵ Xương là Thiệu Tuyên, tên khác là Nam Lai, tự Nhạn Tân, giỏi thơ phú, đậu cử nhân An Nam. Niên hiệu Gia Khánh từng về Ngô Xuyên, tập thơ của ông tên là "Nam Lai thi cảo".
· [Như vậy thì] những điều được chép trong Ngô Xuyên huyện chí về đại thể thì phù hợp với những gì được chép trong “Trung Phòng tộc Phả”. Tuy nhiên, Ngô Xuyên huyện chí lại ghi tên Trần Thượng Xuyên 陳上川 thành ra là Trần Thượng Âm 陳上音, điều này có thể tác giả chỉ nghe thông tin: người anh của Thánh Âm tên Thượng Âm (một tên khác của Thượng Xuyên Công chăng?). Xem trong “Trung phòng tộc Phả” đời thứ 17 của Thánh Âm có 5 người tên Âm 音. Ba anh anh em của Ông: Thánh Âm 聖音,Thiều Âm 韶音,Võ Âm 武音 và 2 người kia là Đức Âm 徳音, Huy Âm 徽音; nên suy luận trên chúng tôi cho là hợp lý.
Ngoài ra, “Ngô Xuyên huyện chí” còn có một vài ghi chép mà “Trung Phòng Tộc Phả” không chép, chẳng hạn như việc Thuỵ Trinh 瑞禎 từ An Nam trở về Ngô Xuyên, và việc Thuỵ Xương 瑞昌 “lại kế nhiệm chức vụ ở An Nam 復襲安南職 ”.Chi tiết này cho thấy chức vụ của Thuỵ Xương tại An Nam [thật ra] là do kế thừa từ cha mình là Trần Thánh Âm 陳聖音 [chứ không phải là từ Trần Thượng Xuyên], đồng thời phản ánh rõ mối quan hệ kế thừa thứ bậc giữa ba đời: Trần Thượng Xuyên 陳上川, Trần Thánh Âm 陳聖音 và Trần Thuỵ Xương 陳瑞昌.
v Tổng binh Thần Thuỵ 陳瑞 trong “Nam hành ký đắc tập”.
Nam hành ký đắc tập là tập thơ văn ghi lại những điều sở đắc của Phạm Nguyễn Du (1739-1786) trong chuyến “hành phương Nam” vào công cán tại Thuận Hóa, từ tháng Bảy năm Bính Thân-1776 đến tháng Hai năm Đinh Dậu-1777. Nội dung của tác phẩm này gồm hai phần: Sưu tập văn thơ của các danh sĩ Nam Hà và phần thơ văn do tác giả biên soạn và sáng tác. Đóng góp lớn nhất của Phạm Nguyễn Du trong phần nầy là ngoài việc bổ sung thơ văn của các tác giả nổi tiếng như Nguyễn Cư Trinh, Ngô Thế Lân, Mạc Thiên Tứ, còn có sáng tác của các tác giả trước nay chưa được nhiều người biết đến như Trần Thuỵ 陳瑞, Hồ Tông Diên, Nguyễn Phúc Dục, Phạm Lam Anh, Nguyễn Dưỡng Hạo, trong đó có một số tác phẩm đến nay chỉ còn truyền bản duy nhất trong Nam hành ký đắc tập.
Phần giới thiệu về Trần Thụy (陳 瑞):
“Nguyên người tỉnh Quảng Đông nước Thanh, trước đây làm quan nguỵ Nguyễn [Chúa Nguyễn] chức Tổng binh總兵 Gia Định”.
Thơ của tổng binh Trần Thuỵ được Phạm Nguyễn Du giới thiệu đa số là thơ ngắn, đậm chất tự sự của vị chiến tướng, những khi cởi giáp bào, thư giãn bên chung rượu, câu thơ:
1- Tuý khách ngâm:
Thi xã hàm ca xưng khúc nghiệt,
Chiến trường nhàn lãm tiếu anh hùng.
2- Hoài Hữu.
3- Vịnh Tùng.
4- Vãn thu thư hoài.
5- Tự vấn.
6- Tân trúc điếu đài.
Theo các thư tịch trong lịch sử, kể từ khi lập phủ Gia Định (1698) đến khi Phạm Nguyễn Du vào Thuận Hoá (1777) thì chưa thấy chi chép nào khác về vị tổng binh 總兵 mang “họ Trần” nào ngoài Trần tộc của tướng Trần Thượng Xuyên.
Xét tư liệu chép trong “Trung phòng tộc phả” :
Công [Thuỵ Xương 陳瑞昌] hào hiệp trượng nghĩa, nối được chí xưa, oai chấn Nam Man, phong hầu vạn dặm, tay viết cuốn “Nam du thi” (Thơ phương Nam) và một tập “Vi kỳ cục” (Thế cờ vây) truyền đời. và trong “Ngô xuyên huyện chí” :
Thuỵ Xương 瑞昌, lại kế thừa chức vụ ở An Nam, có trước tác một quyển “Nam du thi tập 南遊詩集”, và một tập “Vi kỳ cục 圍棋局.
v Qua đó chúng tôi một lần nữa, mạnh dạn cho rằng Trần Thuỵ Xương 陳瑞昌 ghi trong “Trung Phòng tộc phả” và “Ngô Xương huyện chí” cùng tổng binh Gia Định Trần Thuỵ 陳瑞 ghi trong “Nam Hành đắc ký tập” ; chính là người được ghi trong bài vị số III ở bàn thờ hậu tổ chùa Thanh Lương Biên Hoà:
Tương Mẫn Tổng Binh Định Viễn Hầu 襄 愍 總 兵 定 遠 侯.
(tướng Trần Đại Định được ghi chép trong sử sách).
*Tổng binh Định trong Dã Sử (野史) :
Một vị tổng binh tên Định 總兵定xuất hiện trong “Nam Hà tiệp lục”.
Nam Hà tiệp lục (南河捷錄) là một tác phẩm dã sử quan trọng bằng chữ Hán, được biên soạn bởi tác gia Lê Đản vào đầu thế kỷ 19. Tên gọi của tác phẩm có thể hiểu là "ghi chép nhanh về những chuyện ở phương Nam"
Trích đoạn:
…Mộc quốc công dẫn đại thuyền sang nước Xiêm La, định cư một nơi (chưa rõ nơi này), con cháu sinh sôi nảy nở, tự dựng thành một nước không thống thuộc nước nào. Thời Tộ quốc công [Nguyễn Phúc Chu], có một người tên Định vào Quảng Nam làm Tổng binh, gọi là Tổng binh Định, một người tên Cao [chính sử thường ghi Mạc Cửu] vào Cao Miên làm Ốc nhã (ta gọi là Trấn thủ), gọi là Ốc nhã Cao, được sai cai quản Hà Tiên. Ông đã đuổi yêu quái, vỡ hoang, khai thác núi đầm, chiêu mộ dân buôn quy tụ ngày càng đông, dần dần như phong tục Trung Hoa. Cao chết, con là Tung (có tên khác là Tông, lại có tên là Thiên Tứ), khá có văn học, chuộng kẻ sĩ, mở mang đất đai, đời đời nhận tước phong của chúa Nguyễn.
…Hà Tiên dâng lễ xin thần phục chúa Nguyễn, nhưng cũng có ý hai lòng với Cao Miên. Trước kia người Trịnh Châu, Quảng Đông tên là Cao (còn có tên là Cửu, cùng với Tổng binh Định là lớp sau của Mộc quốc công ở Bắc triều) thất trận làm khách buôn ở Cao Miên. Vua Miên thích, cho Cao làm trấn thủ Hà Tiên, do thuộc hạ là Tổng binh Định tại Quảng Nam [tiến cử], nên đến dâng lễ xin thần phục chúa Nguyễn.
Ốc nhã Cao ở Hà Tiên chạy sang ta. Cao Miên vì Ốc nhã Cao dâng lễ xin thần phục chúa Nguyễn, nên nổi giận sai binh đánh. Cao không cự được, phải chạy, Thuận Hoá thâu nạp Ốc nhã Cao tại trấn Hà Tiên. Mạc Cao lại chạy sang ta. Tộ quốc công [Nguyễn Phúc Chu] sai bề tôi là Chính thống Vân [Nguyễn Cửu Vân), Tổng binh Định đưa Cao trở lại trấn…
Nhân vật Tổng binh Định xuất hiện sớm hơn được thấy trong:
Sơn cư tạp thuật (山居雜述)
*Trấn Hà Tiên, nước Xiêm La
Nước Xiêm La đất rộng của nhiều, quốc vương lấy vàng lợp nhà, bách quan dùng bạc, dân thường dùng thiếc. Trịnh Huỳnh vốn là người nhà Minh, sau đổi tên là Trạo Phi Tắc. Khi nhà Thanh mở khoa thi chọn sĩ tử, Huỳnh ứng thi và đỗ đạt, người chú bảo rằng: "Nhà ta đời đời hưởng lộc nhà Minh, nhục thay khi phải cúi mình dưới họ khác". Thế là Huỳnh không ra làm quan, đưa gia quyến đến cư ngụ tại Hà Tiên, cưới con gái của Phi Nhã Tân (Phraya Tak).
Hà Tiên vốn là vùng đất kho tàng. Nhờ dần được trọng dụng, lại gặp lúc đất nước loạn lạc, Huỳnh được dân chúng lập làm Quốc vương, đổi hiệu là Bồn Gia, bèn chiêu nạp các nước lân cận, có ý chí muốn lấy vùng Đồng Nai 同泥. Những hào mục ở vùng Đồng Nai, Hà Tiên 同泥、河仙 vì lánh nạn mà theo về Xiêm La đều được ban cấp sản nghiệp; lấy ruộng của người giàu chia đều cho họ. Những người nghèo khổ phiêu bạt đến cũng có kế sinh nhai, lại được giảm nhẹ thuế khóa; vào dịp Tết Nguyên Đán và Đoan Ngọ, mỗi người chỉ nộp năm mạch tiền, người nghèo thì miễn hoàn toàn. Nhờ chính sách này mà dân chúng nguyện làm thần dân, người quy phụ ngày một đông.
Trấn Hà Tiên vốn là vùng đất hoang sơ, trước kia chưa thuộc về ai. Khi vua Sùng Trinh nhà Minh mất ngôi, Mộc Quốc công từ trấn Giang Đông dẫn binh của mười tám đạo vượt biển cứu giá, nhưng thế lực không địch nổi, bèn chiếm cứ nước Tài Hoãn (Đài Loan), xưng vương sáu năm. Khi vua Khang Hy thân chinh, Mộc Quốc công lánh xa ra Hải Nam, xin tạm trú tại nước ta (Việt Nam). Khi quân Khang Hy đến Quảng Đông, có gửi hịch văn yêu cầu nước ta làm nội ứng. Do (Mộc Quốc công) dâng hơn trăm mỹ nữ, vua Khang Hy nhận lấy, nhưng các mỹ nữ này ngầm đổ nước vào thuốc súng khiến súng thần công bắn không nổ; mười tám đạo quân thì tổn thất mất mười lăm, các tì tướng cũng đa số bị hại. Mộc Quốc công sau đó dẫn thuyền lớn vào nước Xiêm La, định cư tại một nơi, đến nay con cháu vẫn giàu sang hiển đạt, tự lập thành một vùng, không chịu sự thống thuộc của ai. Các thuộc tướng gồm: một người tên là Định, vào Quảng Nam làm Tổng binh, hiệu là Tổng binh Định; một người tên là Cao, vào Cao Miên làm Trấn thủ Tinh Nhã, hiệu là Tinh Nhã Cao. au này Tinh Nhã Cao có công lao to lớn, được phong làm Mục trấn Hà Tiên. Thời kỳ Nam chinh năm Giáp Ngọ, Công bộ có ghi chép lại hành trạng sơ lược của ông.
· Qua các tư liệu trên chúng ta thấy nhân vật Trần Thuỵ Xương trong “Trung phòng Tộc phả”, Định Viễn Hầu (Trần Đại Định) là một vị tướng có thế nói văn võ song toàn.
v Đời thứ mười chín.
Các con trai của Thụy Xương (瑞昌):
Khi làm quan tại An Nam, Thuỵ Xương có 3 con trai được ghi chép trong “Trung phòng Tộc phả”và thuộc đời thứ mười chín: Thiệu Tảo, Thiệu Lạn và Thiệu Tông.
1- Thiệu Tảo 紹璪: tự Miện Ngọc 冕玉, hiệu Lục Kỳ 六竒, thuỵ Thanh Túc 清肃. Sang An Nam không trở về. Lấy Châu thị 周氏, thuỵ Trang Tĩnh 莊靜. Công có [di vật/ấn tín] gửi lại, cùng bà đồng táng tại Đông Hải Ô Liệt Tây Giang 東海污列西江. Sinh ra 3 trai. Lại lấy Dư thị 餘氏, thuỵ Đoan Thuận 端順. Sinh ra 1 gái.
Nguyên văn:
公 字冕玉,號六竒,諡清粛,往安南不返。娶周氏,諡庄静。
公有牙奖枚,與婆仝��東海污列西江,生三子。又娶余氏,諡端順,生一女。
2- Thiệu Tông 紹琮: tự Phương Ngọc 方玉, hiệu Lục Đức 六德, thuỵ Hậu Trực 厚直. Cùng bà hợp táng tại Sơn Trúc Câu 山竹溝, huyệt toạ Tý hướng Nhâm. Lấy Lý thị 李氏, thuỵ Trang Tiết 莊節. Sinh ra 4 trai.
3- Thiệu Lạn 紹瓓: (xuất thân) Quốc Học 国學, tự Lai Ngọc 來玉, hiệu Lục Thao 六韜, thuỵ Thuần Hậu 醕厚, [người] cương trực ngay thẳng, lưu danh trong sử sách là người tài đức minh trí 介直册名德明. Táng tại Hội quán Thuận Hoá 順化會館, mộ lưng tựa Đông Bắc hướng về Tây Nam, mộ có bia. Lấy Chiêm thị 詹氏, táng tại Sơn Chủy Lãnh 山嘴岭, huyệt toạ Hợi hướng Càn. Sinh ra 1 trai là Kiều Quế 翘桂.
Nhận định:
v “Trung phòng Tộc phổ” phần ghi về Trần Thuỵ Xương chép Ông có 3 con trai sinh ở An Nam.
Ba người con trai của Trần Thuỵ Xương (Trần Đại Định ) tuy sinh ra tại Việt Nam, nhưng qua thông tin trong gia phả: từ nơi hợp táng của vợ chồng hoặc nơi táng riêng của người vợ, có thể thấy cả ba đều từng trở về Ngô Xuyên và cưới vợ tại địa phương. Thông tin làm chúng tôi nhận định sự kiện Trần Đại Định chết oan ức trong ngục Quãng Nam, sau đó được giải oan, tình hình trong Đồng Nai nơi Ông- Cha tạo dựng ngót 50 năm: gia sản bị tịch biên, quân tướng Long Môn vị thâu tóm hoặc bất phục bỏ trốn, hoặc tự giải tán… vì lẽ đó 03 người con trai đã đưa thi hài Ông về lại cố thổ: “Công …hợp táng cùng chánh thất tại Sơn Trúc Câu 山竹溝, huyệt toạ Tốn hướng Càn”.
Tuy nhiên, con trưởng của Thuỵ Xương là Thiệu Tảo sau đó lại một lần nữa "sang An Nam không trở về 往安南不返" có thể Thiệu Tảo chính là tướng Trần Đại Lực, chết và chôn ở núi Bình San, Hà Tiên.
Sử liệu của Việt Nam đều xác nhận Trần Đại Lực là con của Trần Đại Định và là con cháu ngoại của Họ Mạc Hà Tiên (Mạc Cửu, Mạc Thiên Tứ).
Năm xưa khi làm trung gian tạo mối giao kết giữa Đình Thần Tân Lân Biên Hoà với Ban quản lý Đền thờ Họ Mạc ở Hà Tiên, chúng tôi có đến núi Bình San, thăm mộ Trần Hầu, mộ Ông được đánh số thứ tự là 09, trên bia có nội dung:
Nguyên văn:
庚寅季春。
贈拓武大將軍該奇機智侯陳公之墓。
Dịch âm:
Canh Dần Quý Xuân.
Tặng Thác Võ Đại Tướng Quân Cai Cơ Cơ Trí Hầu Trần Công chi mộ.
Nam: Đồng桐, Mô模, Cách格 lập thạch.
Dịch nghĩa:
Tháng Ba năm Canh Dần [1770]
Mộ [của] Trần Công [được cáo] tặng [là] Thác Võ Đại Tướng Quân [chức] Cai Cơ [tước] Cơ Trí Hầu
do [các] con trai là Đồng, Mô, Cách lập bia.
Ø Người con trai tên Đồng桐 chính là Kiều Đồng 翹桐, con trai thứ của Thiệu Tảo 紹璪 (Trần Đại Định).
Ba người con trai của Thiệu Tảo được ghi trong “Trung phòng tộc Phổ” .
1- Kiều Đống 翹棟: [xuất thân] hậu tăng sinh 郈增生, tự Trụ Tài 柱材, lại có tự khác là Hoà Canh 和羹, học danh 學名 Nhữ Mai 汝梅, hiệu Văn Trai 文齋, thuỵ Ôn Chính 温正. Lấy Hoàng thị 黄氏, thuỵ Kiệm Thục儉淑. Hợp táng tại Ma Thuỷ Trần Bà Lãnh 麻水陳婆嶺, huyệt toạ Giáp gia Dần 坐甲加寅. Sinh ra 1 trai .
Nguyên văn:
翘棟,郈增生,字柱材,又字和羹,学名汝梅,號文齋,諡温正。娶黄氏,諡儉淑,合��麻水陳婆嶺,坐甲加寅,生一子。
2- Kiều Đồng翘桐: tự Cầm Tài 琴材, thụy Cần Mẫn 勤敏. Lấy Mạch thị 麥氏, không con. Thuở nhỏ thông minh, ôm chí lớn, văn chương truyền đời.
Nguyên văn:
翘桐,字琴材,諡勤敏。娶麥氏,無出。少时聪颖,抱有大志,為文傳后。
翘梓,出嗣堂叔紹瑛。
3- Kiều Tử 翹梓: được đưa sang để làm con thừa tự cho người chú họ nội (đường thúc 堂叔 ) là Thiệu Anh 紹瑛.
Nguyên văn:
翘梓,出嗣堂叔紹瑛。
v Trên bia mộ phần bên trái ghi con trai lập mộ chúng tôi thấy tên của [Kiều] Đồng đứng hàng đầu, có thể vì [Kiều] Đống 棟 là con trưởng nhưng chết trước cha nên không có tên trên bia, thay vào đó là [Kiều] Đồng 桐, và người con trai út [ Kiều] Tử 梓 đi làm con thừa tự cho người chú 出嗣堂叔,tất nhiên theo tập tục trên danh phận không còn là con của Thiệu Tảo (Trần Đại Lực) nên không được ghi tên. Còn 2 người Mô模, Cách格 có thể là 2 con trai khi Thiệu Tảo (Trần Đại Lực) khi sang Hà Tiên lấy vợ sinh ra, chưa kịp cập nhật vào gia phổ; hoặc là con của anh em đồng tộc đang ở Hà Tiên, nhận làm con “nhập tự 入嗣” để thọ tang và sau đó ghi vào bia mộ.
Trong quan niệm của người Trung Quốc xưa, việc ghi nhiều tên con cháu trên bia mộ để "tỏ lòng kính trọng" là cách chứng tỏ " sự thịnh vượng của dòng tộc và khẳng định phúc đức của người đã khuất. Người xưa quan niệm rằng, cái chết đẹp nhất là "Phúc Thọ toàn tề", nghĩa là chết khi đã già và có con cháu đầy đàn; và cũng và “sự hãnh diện của gia tộc” khi người ngoài nhìn vào bia mộ, họ sẽ đánh giá ngay được thế lực và sự phát triển của gia đình đó thông qua số lượng hậu duệ đứng tên.
v Tóm lại, thông qua việc đối chiếu giữa bia mộ của Trần Hầu (bia số 9) tại Hà Tiên và ghi chép trong “Trung phòng Tộc phổ”, chúng tôi cho rằng Trần Thiệu Tảo trong tộc phổ chính là Cơ Trí hầu Trần công ở Hà Tiên, tức Trần Đại Lực. Trần Thiệu Tảo là con trai cả của Trần Thụy Xương, cháu nội của Trần Thánh Âm, tức Trần Thiệu Tảo là thuộc hàng cháu họ nội [đường điệt tôn 堂侄孫 ] của Trần Thượng Xuyên. Do đó, việc Mạc thị Gia phả chép Trần Hầu là "cháu của tướng họ Trần thời Minh" và Gia Định thành thông chí chép Sửu Tài Hầu Trần Văn Lực là "cháu của Đô đốc Thắng Tài hầu" đều có thể giải thích được một cách hợp lý.
Tổng kết
· Sau khi đối chiếu và khảo chứng tư liệu trong “ Trung Liệt Thế Gia” do gia tộc “Trần thị tiểu tông” ở thôn Điền Đầu, trấn Nam Tam, khu Pha Đầu, Trạm Giang, Quảng Đông, Trung Quốc (cung cấp ngày 29.11.2025); với nội dung trong bốn bài vị của Tộc Trần Thượng được thờ trong bàn hậu tổ chùa Thanh Lương, Biên Hòa, Đồng Nai; cùng nhiều nguồn sử liệu cổ của Việt Nam và Trung Quốc. Chúng tôi mạn phép hệ thống lại được một phổ hệ kế thừa và hành trạng tương đối hoàn chỉnh của gia tộc từ Tướng Trần Thượng Xuyên đến Trần Đại Lực:
Ø Trần Thượng Xuyên qua đời vào năm Canh Thìn 庚辰 hưởng dương 46 tuổi (1655-1700), trước đó Ông đã viết thư gởi về quê hương nhắn người em họ cùng tông tộc (đường đệ 堂弟) là Trần Thánh Âm đến An Nam để kế thừa chức vị; sau khi Trần Thánh Âm mất năm Bính Thân 丙申 hưởng thọ 61 tuổi (1656-1716), con trai là Thụy Xương (Trần Đại Định sinh năm Giáp Tuất 甲戌 1694 tại quê hương ) lên kế vị. Trong khoảng năm 1731 đến năm 1732, Trần Thụy Xương được chúa Nguyễn phái dẫn quân bản bộ Long Môn đánh Cao Miên lập nhiều công trận; sau bị quyền thần Trương Phúc Vĩnh vu hãm và chết oan trong ngục. Sau khi được giải oan và được Chúa [Nguyễn Phúc Chú] truy tặng hàm Đô đốc, ba người con trai của Thụy Xương (sinh tại An Nam) đã hộ tống linh cữu cha về quê an táng. Một thời gian sau người con trưởng của Thụy Xương là Thiệu Tảo (Trần Đại Lực) sau khi trưởng thành đã rời quê hương đến Hà Tiên, sau đó trở thành tướng (Trần Hầu) trong quân đội của Mạc Thiên Tứ. Trong cuộc chiến giữa Hà Tiên và Xiêm La, trên đường thoái quân về Hà Tiên, Ông bệnh mất sau đó được an táng cùng vợ tại núi Bình San, Hà Tiên (1770).
Gia tộc Trần Thượng Xuyên (đặc biệt là cá nhân Đức ông Trần Thượng Xuyên) là 1 trong số tác nhân chính, đóng vai trò quyết định trong việc sơ phác định hình diện mạo kinh tế - xã hội vùng Đông Nam Bộ từ cuối thế kỷ 17 đế đầu thế kỷ 18. Sau khi rời bỏ Trung Hoa vì không chịu thần phục nhà Thanh, Ông đã dẫn dắt đoàn thuyền di dân đến định cư tại Đàng Trong dưới sự cho phép của Chúa Nguyễn.
1- Công trạng khai phá, định cư di dân và phát triển kinh tế:
Xây dựng thương cảng, làng nghề, chợ…: Trần Thượng Xuyên là người có công biến vùng đất hoang sơ Bàn Lân (Biên Hòa ngày nay) thành thương cảng Cù lao Phố sầm uất bậc nhất phương Nam thời ấy. Nhờ tư duy lãnh đạo nhạy bén, khi lệnh hải cấm 海禁 được chính quyền nhà Thanh bải bỏ (1683), Ông đã cho xây dựng Miếu Quan Đế, thành lập các Bang hội kêu gọi đồng hương, những nông dân, thợ thủ công cần cù siêng năng đến định cư lập làng (khu vực Bửu Long và các vùng lân cận…) khai thác vùng đất mới. Thu hút những nhà tư thương có tài sản, trình độ đến xây dựng thị trường sản xuất khai thác tài nguyên, sản vật… gọi mời tàu buôn từ các nước Đông Nam Á, Trung Quốc, Nhật Bản và phương Tây đến giao thương.
Thúc đẩy đô thị hóa: Sự xuất hiện của cộng đồng "Minh Hương” sau đó là “Thanh Nhân” do ông dẫn dắt đã đặt nền móng cho các phố xá, làng nghề (như gốm, dệt, đúc đồng) phát triển, tạo nên cấu trúc đô thị sơ khai cho vùng Đồng Nai - Gia Định (thương cảng cù lao Phố- phố chợ Sài Gòn).
2- Đóng góp về quân sự và chính trị
Võ tướng thao lược: Không chỉ là người có nhãn quan nhạy bén về kinh tế, Ông và gia tộc còn là những võ tướng dũng mãnh, nhiều lần cầm quân giúp Chúa Nguyễn dẹp loạn, giữ gìn an ninh vùng biên viễn và mở mang bờ cõi.
Góp phần xác lập chủ quyền: Việc Ông dẫn dân định cư và tổ chức hành chính tại vùng đất mới đã giúp triều đình nhà Nguyễn thuận lợi hơn trong việc xác lập chủ quyền lãnh thổ tại Nam Bộ một cách thực tế và bền vững.
3- Di sản văn hóa và tâm linh
Hòa hợp dân tộc: Gia tộc ông đã thúc đẩy sự giao thoa văn hóa giữa người Hoa di dân và người Việt bản địa, tạo nên một cộng đồng Minh Hương đoàn kết, có trách nhiệm với quốc gia mới.
Thờ phụng và tri ân: Với những đóng góp to lớn, vua Minh Mạng đã sắc phong Thần, ghi nhớ công tích Trần Gia và đưa vào điển tích thờ phụng:
Đức Ông được sắc phong "Thượng Đẳng Thần", Trần Đại Định được sắc phong “Trung Đẳng Thần”.
Hiện nay, Đình Tân Lân (Trấn Biên, Đồng Nai) và khu mộ cổ của gia tộc Trần Thượng tại Tân Uyên (tp Hồ Chí Minh) là những di tích lịch sử quan trọng, ghi dấu lòng biết ơn của nhân dân đối với người có công mở cõi ./.
Viết xong tại Trấn Biên, Ất Tỵ- Quý Đông.
Kỷ niệm 370 năm Sanh thần Đức Ông.
Nguyên- Phong Lê Ngọc Quốc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1- Quốc sử quan triều Nguyễn (2007), Đại Nam Thực Lục (tổ phiên dịch Viện Sử Học phiên dịch), Nxb Giáo Dục.
2- Trịnh Hoài Đức (2005), Gia Định thành thông chí, Hậu Học Lý Việt Dũng (dịch và chú giải), Tiến sĩ Huỳnh Văn Tới (hiệu đính và giới thiệu), Nxb Tổng hợp Đồng Nai.
3- Quốc sử quan triều Nguyễn (2012), Đại Nam nhất thống chí, bản dịch mới của Hoàng Văn Lâu, tập 2.
4- Nội các triều Nguyễn (2004), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ. Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc Gia- Viện sử học. Nxb Thuận Hoá, quyển 122 trang 346.
5- 85 sắc phong ở miếu Công Thần tại Vĩnh Long (2004) Thư viện Khoa học Tổng hợp TP Hồ chí Minh, 2013.
6- Miếu Hội Đồng tỉnh Định Tường (2010) Sở VHTH và du lịch- Ban Quản Lý Di tích tỉnh Tiền Giang .
7- Giáo hội Phật Giáo Việt Nam (2002) Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Đồng Nai- Những ngôi chùa Đồng Nai , tập I - Nxb Văn hóa Thông tin.
8- Nghiên cứu địa bạ Triều Nguyễn- Biên Hòa (1994) Nguyễn Đình Đầu, Nxb thành phố Hồ Chí Minh.
9- Phạm Nguyễn Du (2017) dịch giả Trần Đại Vinh. Nam Hành ký đắc tập. Tạp chí nghiên cứu và phát triển. số 5 (139).
10- Lê Đản (2012) dịch và khảo chú: Trần Đại Vinh. Nam Hà tiệp lục- Phụ chư quốc phong tục. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3-4 (92-93)
11- Đan Sơn (丹山) Sơn cư tạp thuật, trích trong Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tập thành (越南漢文小說集成), dự án phối hợp giữa Viện Hán Nôm (Việt Nam), Viện Viễn Đông Bác cổ (Pháp - EFEO) và Đại học Minh Truyền (Đài Loan).
12- La Thiên Xích- Ngũ Sơn Chí Lâm, truyện Tạ Xương chết ở nước Cao Miên, nằm trong: Tùng Thư Tập Thành Tân Biên (叢書集成新編).Nxb Tân Văn Phong (Shin Wen Feng Print Co., Ltd.) Đài Loan xuất bản lần đầu vào khoảng thời gian trước năm 1930, bản PDF.
13- Địa chí huyện Ngô Xuyên, Quảng Đông, ấn bản Đạo Quang thời nhà Thanh, gồm mười tập, do Lý Cao Cửu, Diệp Chương Văn và Lâm Đài Văn biên soạn.
14- Châu phê dụ chỉ (bản Tứ khố toàn thư) quyển 174 đoạn 10 đến 12 硃批諭㫖 (四庫全書本)/卷174之11. Đây là đoạn xảy ra vào năm Ung Chính 8 (tức năm 1731). Dịch giả Trần Hoàng Vũ.
15- Trung Liệt Thế Gia- Nam Phòng hạ trưởng chi tộc phả- thôn Điền Đầu, Nam Tam, Trạm Giang 湛江南三田頭村南房下長支族譜.
16- Trung Liệt Thế Gia- Trung phòng hạ thứ chi tộc phả- thôn Điền Đầu, Nam Tam, Trạm Giang 湛江南三田頭村中房下次支族譜.
17- Tăng Dực Kiện (2025) Khảo về hệ thống thế phả gia tộc Trần Thượng Xuyên – viên quan Hoa nhân tại Việt Nam thời Thanh. https://www.sohu.com/a/917650416_523187
