GIẢ THUYẾT VỀ NGUỒN GỐC ĐỊA DANH “ĐỒNG NAI” NAM BỘ:
DẤU TÍCH KÝ ỨC CỐ HƯƠNG TỪ VÙNG VÂN PHONG – NHA-RU- KHÁNH HÒA?
Lê Ngọc
Quốc [1]
Dẫn nhập
Địa
danh Đồng Nai- Vũng Nhà Ru (vịnh Vân Phong)
An Nam Đại Quốc họa đồ của linh mục Taberd 1838
Trong nghiên cứu địa danh học Nam Bộ, tên gọi “Đồng Nai”
thường được mặc nhiên gắn với miền Đông Nam Bộ, đặc biệt là lưu vực sông Đồng
Nai – Biên Hòa. Tuy nhiên, nhiều tư liệu thế kỷ 18-19 cho thấy đã từng tồn tại
một địa danh khác mang tên “Dou-nai / Đồng nai / 仝狔” ở vùng ven biển
cực bắc Khánh Hòa – nam Phú Yên, quanh khu vực vịnh Vân Phong – Đại Lãnh ngày
nay.
Trong lịch sử Nam tiến của dân tộc Việt Nam, mỗi cuộc di
dân không chỉ mang theo con người, gia sản và tín ngưỡng, mà còn mang theo ký ức
quê hương. Một trong những biểu hiện rõ nhất của ký ức ấy là hiện tượng “mang
tên làng cũ đặt cho vùng đất mới”. Đây là hiện tượng phổ biến trong lịch sử di
dân thế giới cũng như ở Việt Nam; có nhà thơ đã cảm khái rằng:
…”Họ truyền giọng
điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên
xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân...” [1]
Từ nhận xét ấy, kết hợp với các tư liệu địa danh học và
truyền giáo của Hội Thừa sai Paris, và sử liệu triều Nguyễn, chúng ta có thể đặt
ra một giả thuyết đáng chú ý:
ü
Địa danh “Đồng Nai” ở Nam Bộ có
thể đã chịu ảnh hưởng ký ức địa danh hoặc củng cố bởi lớp lưu dân gốc Khánh Hòa
– vịnh Vân Phong, vốn mang theo ký ức về một địa danh cổ “Dou-nai / Đồng Nai”
đã tồn tại từ trước ở miền Trung.
Bài viết này thử khảo chứng giả thuyết ấy.
I.
Sự tồn tại của một “Đồng Nai” cổ ở miền
Trung
Địa danh này xuất hiện liên tục trong:
- thư
từ của các giáo sĩ Hội Thừa sai Paris (MEP),
- địa chí triều Nguyễn,
- bản đồ của Jean-Louis Taberd,
- bản
đồ truyền giáo của
Adrien Launay.
Sự lặp lại
liên tục trong hơn một thế kỷ cho phép khẳng định rằng đây không phải lỗi chép
hay sự nhầm lẫn với Đồng Nai nam bộ, mà là một địa danh lịch sử độc lập thuộc hành lang ven biển Vân Phong
– Đại Lãnh (Kháng Hòa).
Trong nhiều tài liệu, thư từ của các giáo sĩ Hội Thừa sai
Paris (MEP) [2] thế kỷ 17-
18, xuất hiện liên tục một chuỗi địa danh ven biển miền Trung:
- Nha-ru
- Dou-nai
- Nha-tlang
Các địa danh
này đều nằm trong hành lang Khánh Hòa – Phú Yên ngày nay.
Đặc biệt,
trong các bản đồ:
- Carte de la Cochinchine (1786), [3]
- An Nam Đại Quốc Họa Đồ của
Taberd (1838),[4]
- Bản
đồ Les Missions
Catholiques dans l’Indo-Chine Française của linh mục Adrien Launay (1889),[5]
đều xuất hiện
địa danh: Don-nai / Đồng-nai
1. Tư liệu truyền giáo thế kỷ 17- 18.
Nguồn tư liệu quan trọng nhất là bộ: “Lịch sử phái bộ
truyền giáo Đàng Trong”
Do linh mục Adrien Launay sưu tập và xuất bản từ tư liệu
gốc của Hội Thừa sai Paris.
Đặc biệt về địa danh Dou-Nai ở Bắc Khánh Hòa tài liệu ghi:
Dịch nghĩa: “Tại Nha-ru và Nha-trang
Tôi vừa đi được hai dặm thì bị ốm nặng; tuy nhiên, tôi vẫn
đến được Dou-nai, nhà thờ gần nhất; nhưng tôi bị sốt, và không thể cử
hành Thánh lễ vào ngày hôm sau. Lo sợ bệnh tình sẽ nặng thêm, tôi đã được
khiêng bằng võng đến nhà thờ ở Nha-ru để được chăm sóc mà tôi sẽ không có được ở
Dou-nai.” [6]
Chi tiết này chứng minh Dou-nai không chỉ là tên địa hình
mà là:
- một
điểm cư trú có cộng đồng giáo dân,
- có nhà thờ,
- thuộc mạng lưới truyền giáo ven
biển Trung Bộ.
Trong cùng
văn cảnh, vị trí Dou-nai nằm giữa:
- Nha-ru (vịnh Vân
Phong)
- Nha-tlang (Nha Trang)
- vùng Ciam-pa (đất Chiêm Thành)
nên hoàn
toàn không thể là Đồng Nai ở Nam Bộ.
2. “Nha-ru” và hành lang Vân Phong
Các thư truyền
giáo mô tả:
- Nha-ru cách Nha-tlang khoảng một
ngày đường,
- nằm trên tuyến đi Phú Yên,
- gần vùng núi hiểm trở,
- gần các vũng biển và đảo nhỏ.
Đến bản đồ An
Nam Đại Quốc Họa Đồ năm 1838 của Jean-Louis Taberd, địa danh:
“Vũng
nhà-ru”
được ghi rất
rõ tại khu vực vịnh Vân Phong – Hòn Khói. Điều này xác nhận rằng:
Nha-ru là một
địa danh ven biển thuộc vùng Vân Phong ngày nay.
Đồng thời,
trên cùng bản đồ xuất hiện địa danh: “Đồng nai”
ở khu vực
phía bắc Khánh Hòa, gần Cap Varella (Mũi Đại Lãnh). Như vậy, Nha-ru và Đồng Nai
là hai địa danh kế cận trong cùng hành lang địa lý ven biển.
3. Tư liệu triều Nguyễn: “Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí.
Nguồn tư liệu quyết định để định vị Đồng Nai cổ là:
“皇越一統輿地志” Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (1806) của Lê Quang Định.
Trong phần mô tả đường thiên lý thuộc dinh Bình Hòa, sách
ghi:
- 仝狔店 (Đồng Nai điếm)
- 仝狔林路 (đường rừng Đồng Nai)
- [土竜]仝狔 (giồng Đồng Nai) [7]
Trích: “..Trâm
Hòa Huỳnh: đặt lính thường trực ở trạm gồm 17 suất.
7.900 tầm đến trạm Hòa Mỹ.
395 tầm, là vùng bờ bãi, thuộc địa phận thôn Xuân Mỹ, phía đông là chân núi,
tây có nhà cửa dân cư sinh sống, đến láng Củ Chi, láng dài 320 tầm, ngày xưa có
cây mã tiền mọc ở đây nên mới gọi là Củ Chi, đến đường điếm Lễ Lâm, đường dài
600 tầm, phía bắc có cư dân thưa thớt, đất thích hợp với cây thuốc lá, thuốc xắt,
mùa xuân hè thì trồng bông vải, thu đông thì trồng ngô, lúa gạo, đường toàn đá
sỏi rất khó đi, tục gọi là Truông Sỏi, đến điếm Đồng Nai (仝狔店), thuộc
địa phận xã Xuân Sơn, tổng Trung, huyện Quảng Phước, ở điểm này có bán hàng điểm
tâm, khách đi đường có thể nghỉ chân.
520 tầm, đường ở đây bằng phẳng, phía đông là chân núi, phía tây là ruộng, dân
cư thưa thớt, đất này thích hợp với cây thuốc lá, mùa xuân hè thì trồng bông vải,
thu đông trồng ngô, đến đường rừng Đồng Nai (仝狔 林路). Đường
dài 1.139 tầm, hai bên rừng là đồng ruộng, dân cư ở liền nhau, đất ở đây thích
hợp với cây bông vải, ngô và thuốc lá. Thời xưa nơi đây dưới thì ruộng núi, lên
trên thì hươu nai nên có tên là giồng Đồng Nai ([土竜]仝狔) , đến
cầu Bàu Voi, thuộc địa phận thôn Mỹ Lộc, tổng Trung, huyện Quảng Phước. Cầu dài
7 tầm, bàu rộng 5 tầm, dài 200 tầm, trên không có nguồn, dưới không có nhánh, bốn
mùa đều có nước, mùa xuân hè thì nước cạn, mùa thu đông do mưa lụt nên nước.
sâu. Ngày xưa người ta dụ voi hoang về nuôi ở đây và cho tắm rửa ở bàu này…”
Hành trình này thuộc tuyến thiên lý dinh Bình Hòa (Khánh
Hòa).
Đặc biệt, tài liệu giải thích nguồn gốc tên gọi:
“Thời xưa nơi đây dưới thì ruộng núi, lên trên thì hươu
nai nên có tên là giồng Đồng Nai.” Chi
tiết này rất quan trọng vì:
1. xác nhận
“Đồng Nai” là địa danh địa phương thật;
2. cho thấy
vùng này thuộc địa hình bán sơn địa;
3. liên hệ
trực tiếp với môi trường rừng núi có nai hoang;
4. đặt địa
danh này vào đúng tuyến thiên lý Khánh Hòa – Phú Yên.
Các địa điểm đi kèm như:
- Truông Sỏi,
- Bàu Voi,
- đèo núi hiểm trở,
đều phù hợp
với khu vực Đại Lãnh – đèo Cả hiện nay.
Điều đó chứng minh rằng: tại vùng bắc Khánh Hòa đã từng tồn
tại một địa danh lịch sử thật sự mang tên “Đồng Nai”.
4. Bản đồ Taberd 1838
Bản đồ: An Nam Đại Quốc Họa Đồ của linh mục Taberd là tư
liệu bản đồ đầu tiên ghi rõ đồng thời:
- “Vũng nhà-ru”
- “Đồng nai”
trong cùng
khu vực bắc Khánh Hòa.
Điều đáng
chú ý là:
- “Vũng nhà-ru” nằm gần Hòn Khói –
Vân Phong;
- “Đồng nai” nằm gần Cap Varella
(Đại Lãnh).
Cách ghi này
cho thấy:
- Nhà-ru thiên về địa danh vũng biển;
- Đồng Nai thiên về tuyến đường bộ
– vùng nội địa ven chân núi.
Sự phân bố ấy
phù hợp hoàn toàn với mô tả của Lê Quang Định và thư truyền giáo MEP.
5. Bản đồ truyền giáo của Adrien Launay (1889)
Tư liệu cuối
cùng khẳng định sự tồn tại lâu dài của địa danh này là bản đồ:
Các phái đoàn truyền giáo Công giáo ở Đông Dương thuộc
Pháp (1889)
Do linh mục Adrien Launay biên soạn. Trên
bản đồ vùng Vân Phong – Đại Lãnh xuất hiện rõ: “Đồng-nai” ngay phía dưới Cap
Varella.
Điều này rất quan trọng vì:
- đây
là bản đồ truyền giáo,
- dựa
trên tài liệu nội bộ của Hội Thừa sai Paris,
- kế
thừa trực tiếp truyền thống địa lý của các giáo sĩ thế kỷ 18.
Do đó, “Đồng-nai” ở đây phản ánh ký ức địa lý truyền giáo
chứ không phải một nhầm lẫn hành chính.
II. Gia tộc linh mục Laurent Emmanuel Huỳnh Văn Lâu và cuộc Nam tiến cuối thế kỷ 17.
Các nghiên cứu về linh mục người Việt: Laurent Emmanuel
Huỳnh Văn Lâu (1660–1732) [8]
cho biết:
- gia
tộc họ Huỳnh vốn gốc vùng Lâm Tuyền – Nha Trang;
- có
liên hệ mật thiết với vùng Nha-ru (vùng vịnh Vân Phong);
- khoảng
năm 1680 gia đình linh mục Huỳnh Văn Lâu đã di cư vào Nam khai phá vùng Đồng
Nai.
Trong
Histoire de la Mission de Cochinchine, Adrien Launay chép:
“Le père de notre P. Laurent, avec une partie de sa
famille seulement, pénétra jusqu'en celle de Dou-nai,
qui est frontière de Camboge là le bon et pacifique vieillard
s'occupait, depuis environ 20 ans, de cultiver une cam-pagne qu'il avait
défrichée.”[9]
Dịch nghĩa :
“Thân phụ của cha Laurent, cùng một số thành viên gia
đình mình, đã di cư vào vùng Dou-nai, nơi giáp biên giới Cambodge (Cao
Miên); tại đó, người lão ông hiền lành và chất phác ấy đã sống khoảng hai mươi
năm [1680-1700] chuyên lo khai phá và canh tác một vùng đất mà ông đã tự tay vỡ
hoang.”
Đoạn văn này phản ánh đúng hoàn cảnh lịch sử cuối thế kỷ
XVII:
- lưu
dân miền Trung tiến vào vùng đất mới;
- khai phá rừng hoang;
- lập làng dọc lưu vực Đồng Nai;
- mở rộng biên giới về phía Nam.
Điều đáng
chú ý là:
· những người đi mở cõi ấy lại xuất
thân từ vùng có địa danh “Dou-nai” cổ ở Khánh Hòa.
III.
“Mang theo tên làng cũ”: hiện tượng phổ biến trong lịch sử di dân
Trong lịch sử
Việt Nam, việc lấy tên quê cũ đặt cho vùng đất mới là hiện tượng rất phổ biến.
Người di cư
thường mang theo:
- tên làng,
- tên chợ,
- tên sông,
- tên phủ huyện,
để đặt cho
nơi định cư mới. Đó không chỉ là cách đánh dấu lãnh thổ, mà còn là hành
vi văn hóa nhằm bảo tồn ký ức cội nguồn.
“Quê hương là chốn gắn bó thân thiết với mỗi con người.
Đó không chỉ là nơi có mồ mả tổ tiên ông bà, mà còn là nơi ghi dấu những ký ức
đẹp; là nơi mà tâm hồn và bản sắc văn hóa con người được nuôi dưỡng. Lấy địa
danh cố hương để đặt tên cho nơi cư trú mới chính là để luôn nhắc nhở con cháu
đời sau nhớ về gốc tích tổ tông; và nếu có dịp, sẽ quay về quê cũ để thỏa nỗi
niềm khát khao cố hương mà lớp tiền nhân đã gạt nước mắt dứt áo ra đi.”[10]
Trong bối cảnh ấy, giả thuyết rằng:
·
Lưu dân Khánh Hòa đã mang theo địa danh “Đồng
Nai” vào Nam Bộ
là điều hoàn toàn có thể xảy ra về mặt lịch sử – tâm lý –
văn hóa.
IV. Những dữ kiện ủng hộ giả thuyết
1. Hai địa danh “Đồng Nai” cùng tồn tại trong tư liệu Hội
Thừa sai Paris (MEP)
Các tài liệu truyền giáo thế kỷ cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ
18 [11]
cho thấy:
- Dou-nay (giáo điểm) thuộc provincia Nha-ru (miền Trung),
- Và R. Dou-nai
(giáo điểm) thuộc
provincia Dou-nai (Nam Bộ)
được phân biệt
rất rõ.
Điều này chứng
minh rằng:
· “Đồng Nai” không phải chỉ có một địa danh duy
nhất trong lịch sử Việt Nam.
2. Dòng
di dân Khánh Hòa – Đồng Nai là có thật
Gia đình
linh mục Laurent Emmanuel Huỳnh Văn Lâu là trường hợp tiêu biểu:
- quê gốc Nha-ru/ Nha Trang,
- sau đó di cư vào Đồng Nai khai
khẩn.
Điều này tạo
nên mối liên hệ lịch sử trực tiếp giữa hai không gian địa lý cùng mang tên “Đồng
Nai”.
3. Đồng
Nai Nam Bộ thời kỳ đầu còn là vùng đất mới
Trong tài liệu
của “Hội Thừa sai Hải Ngoại Paris MEP”, Đồng Nai Nam Bộ được mô tả là:
- frontière de Camboge (là
ranh giới với Cao Miên),
- vùng rừng khai phá,
- đất mới canh tác.
Đây có thể
là hoàn cảnh thuận lợi để
lưu dân đặt “tên mới theo ký ức quê cũ.”
V. Một giả thuyết địa danh học cần được chú ý
Dĩ nhiên, địa danh “Đồng Nai” Nam Bộ từ lâu đã được giải
thích theo nhiều hướng:
- gốc Khmer,
- gốc Mạ,
- gốc Chơ Ro,
- hay từ đặc điểm sinh thái “đồng
có nai”.
Tuy nhiên,
các tư liệu về “Dou-nai” miền Trung mở ra một khả năng khác:
“Đồng Nai”
Nam Bộ có thể là kết quả của sự giao thoa giữa địa danh bản địa và ký ức địa
danh của lưu dân miền Trung.
Nói cách
khác:
- vùng đất Nam Bộ có thể đã có tên
bản địa riêng;
- nhưng lớp lưu dân Việt gốc Khánh
Hòa đã góp phần Việt hóa hoặc củng cố tên gọi “Đồng Nai” theo ký
ức cố hương của họ.
- ký ức địa danh Đồng Nai- Khánh Hòa có thể đã góp phần củng
cố tên gọi Đồng Nai Nam Bộ.
VI. Kết
luận
Các tư liệu
truyền giáo, bản đồ cổ và địa chí triều Nguyễn cho thấy:
1.
từng
tồn tại một địa danh “Dou-nai / Đồng Nai” ở vùng Vân Phong – Đại Lãnh (Khánh
Hòa);
2.
nhiều
lưu dân Khánh Hòa vào nữa cuối thế kỷ 17 đã di cư vào khai phá Nam Bộ;
3.
gia
tộc linh mục Laurent Emmanuel Huỳnh Văn Lâu là một trường hợp tiêu biểu;
4.
trong
lịch sử di dân Việt Nam, hiện tượng mang tên quê cũ đặt cho vùng đất mới là điều
phổ biến.
Từ đó, có thể
đặt ra một giả thuyết mới:
· địa danh “Đồng Nai” Nam Bộ có thể
mang dấu ấn ký ức cố hương của lớp lưu dân xuất thân từ vùng “Dou-nai- Đồng
Nai” cổ ở Khánh Hòa.
Dẫu giả thuyết
này cần thêm nhiều tư liệu khảo cổ, ngữ âm học và địa danh học để kiểm chứng,
nhưng nó mở ra một hướng tiếp cận mới cho lịch sử Nam tiến:
ü địa danh không chỉ là dấu hiệu hành
chính, mà còn là ký ức văn hóa của những đoàn người ly hương đi mở đất phương
Nam ./.
[1] "Họ gánh theo tên xã, tên
làng trong mỗi chuyến di dân" trích từ trường ca Mặt
đường khát vọng- Đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm
[2] Adrien Launay (1923), Lịch sử phái bộ
truyền giáo Cochinchina, Tài liệu lịch sử, Paris.
[3] https://gallica.bnf.fr/ark:/12148/btv1b532276415/f1.item.r=Carte%20de%20Cochinchine
[4] https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp_tin:An_Nam_Dai_Quoc_Hoa_Do_by_Jean_Louis_Taberd_1838.jpg
[5] https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Les_Missions_Catholiques_dans_l%27Indo-Chine_Fran%C3%A7aise_-_dress%C3%A9e_par_Adrien_Launay_..._d%27apr%C3%A8s_les_documents_officiels_et_les_renseignements_des_Missionnaires_-_btv1b53258226b.jpg
[6] Adrien Launay (1923), Lịch sử phái bộ truyền giáo Cochinchina, Tài liệu lịch sử, tom II. Paris, trang 131
[7] Lê Quang Định (1806)- Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, Nxb Thuận Hóa 2005. Dinh Bình Hòa. quyển hai trg 47.
[8] Linh mục Gioan Nguyễn Đình Đệ (2021)- Một danh nhân văn hóa bị lãng quên - Cha Laurent Emmanuel Huỳnh Văn Lâu (1660-1732). https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/mot-danh-nhan-van-hoa-bi-lang-quen-cha-laurent-emmanuel-huynh-van-lau-1660-1732--42705#_ftnref1
[9] Adrien Launay, Histoire de La Mission de
Cochinchine, Documents historiques I, 1658-1728, Paris, 1923, p. 467.
(nội dung bản
tường trình của linh mục Gouge về cuộc bách hại năm 1700 từ Phan Rí đến
Nha-rou)
[10] Lê Ngọc Quốc (2018), Tập san Nam
Bộ Đất & Người, tập XIII, Hội
KHLS Tp Hồ Chí Minh- Xứ Nhật Bản ở Nam bộ xưa. Nxb Đại Học Quốc Gia Tp Hồ
Chí Minh. trang 812.
[11] Adrien Launay, Histoire de La Mission de
Cochinchine, Documents historiques II, 1658-1728, Paris, 1923, p. 190.
Viết
nhân dịp thành lập “Thành Phố Đồng Nai”
Nguyên –
Phong Lê Ngọc Quốc.
Địa
danh Đồng Nai (vịnh Vân Phong- Khánh Hòa)
Bản đồ của linh mục Adrien Launay- 1889
Vùng Nha Ru và giáo điểm Nha ru
(vịnh Vân Phong- Khánh Hòa),
vùng
Don nai và giáo điểm Don nai (Đồng Nai) trên bản đồ 1786
Vùng Nha-ru
và giáo điểm Dou-nay - vùng Dou-nai và giáo điểm R Dou-nai (Đồng Nai)
Adrien Launay, Histoire de La Mission de Cochinchine, Documents
historiques II,
1658-1728, Paris, 1923, p. 190





