Thứ Hai, 22 tháng 6, 2026

 Kỷ niệm 310 năm húy kỵ (1716-2026)

Đức Ông Trần Thánh Âm, Tổ lập chùa Thanh Lương- Biên Hòa.

LƯỢC SỬ TRẦN THÁNH ÂM (聖音)

(Công là Đường đệ của Thượng Xuyên Công}

Theo ghi chép trong “Trần thị Tộc phả” thôn Điền Đầu, Tram Giang, Quảng Đông, Trung Quốc; Trần Thánh Âm 聖音 thuộc ĐẠI TỘC (BẮC TỐNG - PHÚC KIẾN).

Biên Trấn Trần Thành Am 邊鎮陳誠菴.

Dịp mừng thọ [Trần] Thành Am, vua nước Cao Miên sai sứ sang chúc thọ

TRUNG LIỆT THẾ GIA

          Lời tựa tộc phổ chép rằng tổ tiên họ Trần đến từ Bồ Điền, Phúc Kiến. Cuối thời Tống đầu thời Nguyên, tổ tiên là Trần Văn Long 陳文龍 (đời thứ 8) giữ nghĩa không hàng Nguyên, tuyệt thực mà chết. Con trai của Văn Long là Mộng Lân (đời thứ 9) cùng con [Bát Tuyên 八宣- đời thứ 10] cùng 1 số thân tộc, dẫn tộc nhân dời xuống phía nam đến Quảng Đông, sống rải rác ở Hóa Châu, Ngô Xuyên, Thạch Thành. Sau đó con trai của Bát Tuyên 八宣  là Bá Trấn 伯鎮 ( đời thứ 11) chọn cư ngụ tại Càn Đường, Ngô Xuyên, đây chính là "Trần thị Đại tông". [ khi đến định cư ở Càn Đường, Trần thị Đại tông tôn Bá Trấn là thủy tổ đời thứ 1]

          Đến đời cháu đời thứ sáu là Trần Văn Hy, Văn Hy Công dời đến làng Điền Đầu trên đảo Nam Tam, hình thành "Trần thị Tiểu tông". Trần Thánh âm là hậu duệ đời thứ 17 của chi “Trung phòng Hạ thứ chi” thuộc "Trần thị Tiểu tông".

Về Trần Thánh Âm, Trung phòng hạ thứ chi tộc phả tại thôn Điền Đầu, Nam Tam, Trạm Giang Quảng Đông chép.

I.              Gia phả chép

Đời thứ 17:

Trần Thánh Âm 聖音: xuất thân cống sinh, Quốc Đỉnh國鼎 hiệu Thành Am 誠菴, thuỵ 剛定 Cang Định.

Năm Giáp Tuất( 1694), Thánh Âm công giữ việc phụ tá / cố vấn trong phủ Du Kích, thuộc dinh Ngô Xuyên với vai trò mạc sư 幕師 [mạc sư còn gọi là mạc hữu 幕友 - nghĩa là người phụ tá dân sự không có chức quan chính thức, được quan lại thời Minh – Thanh (và cả các thời sau) thuê riêng để giúp xử lý các công việc hành chính, pháp luật, tài chính, và văn thư. Chức Mạc Hữu không thuộc biên chế nhà nước, nhưng lại giữ vai trò rất quan trọng trong hoạt động của nha môn- giống như cố vấn, trợ lý chuyên môn hoặc thư ký riêng của quan].

Khi Ông [từ địa phương] lên tỉnh lỵ để thi hành việc công đường, thì nhận được thư nhà của Ông TrầnThượng Xuyên từ An Nam gửi về. Ông liền cùng người cháu trong tộc họ là cống sinh Thủ Khôi 首魁 cùng vượt biển sang An Nam. Chỉ vài tháng sau, Ông Thượng Xuyên phát ung nhọt ở lưng mà mất; Ông Thánh Âm liền  kế vị chức vụ của Ông Thượng Xuyên, giữ chức Tổng trấn Đồng Nai狪狔.

Về sau, các chi phái của dòng Ông Thánh Âm đều đã lan rộng ở An Nam, đời nào cũng có người hiển đạt. Trước đó ở quê Ông Thánh Âm lấy Trịnh thị 鄭氏, thuỵ Cung Thận 恭慎, táng tại Đặng Ốc 鄧屋, huyệt tọa Tân hướng Ất.

Sinh ra 3 trai là: Thuỵ Trinh 瑞禎, Thuỵ Xương 瑞昌, và Thuỵ Tường 瑞祥.

Lúc làm quan tại An Nam, Ông Thánh Âm [lại] lấy Dương thị 楊氏, [bà] cùng Ông hợp táng tại vùng sơn lãnh Đồng Nai.

Ông bà sinh ra 2 trai là: Thuỵ Đạo 瑞道 và Thuỵ Phiền 瑞蕃 , hiện chi phái Thuỵ Đạo và Thuỵ Phiền đang ở khắp An Nam.

II.            Bài vị  ( ở chùa Thanh Lương, Biên Hòa, Đồng Nai chép)

          Ông húy Thánh Âm 聖音, tên tự là Quốc Đỉnh國鼎 , hiệu là Thành Am 誠菴.

Sinh giờ Thân ngày 25 tháng 3 năm Bính Thân 丙申 (1656),

Tử giờ Tuất ngày 09 tháng 5, năm Bính Thân 丙申 (1716).

Vào giờ Dần ngày 11 tháng 3 năm Mậu Tuất 戊戌 (1718) được táng ở xứ Đá Lửa, làng Mỹ Lộc, Đồng Nai.[ mộ ông nằm trong khu lăng mộ Đức Ông Trần Thượng Xuyên hiện nay]

 

III.         Công trạng ở Đồng Nai

Sau khi tướng Trần Thượng Xuyên mất (theo bài vị là mồng 08 tháng giêng năm Canh Thìn- 1700), Ông kế vị chức Tổng binh nắm giữ thuộc binh và quân Long Môn, quản lý thương cảng Nông Nai đại phố…

Chinh phạt Cao miên: Mùa xuân tháng 2 năm 1700 Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào nam; tháng 3, Trần Thánh Âm chỉ huy quân bản bộ cùng quân Long Môn (đang trấn giữ Doanh Châu- cù lao Giêng), cùng đại binh triều đình đánh nhau với giặc nhiều trận đều toàn thắng .

Mùa thu năm 1705,  Cao Miên lại có nội loạn, Chúa Nguyễn Phúc Chu sai tướng Nguyễn Cửu Vân vào nam thống lĩnh quân thuỷ, bộ Gia Định tiến đánh Cao Miên; đánh tan viện binh Xiêm La tại Sầm Giang. Lúc bấy giờ Ông đang quản lãnh Doanh Châu, tổng binh Phiên trấn cũng góp phần không nhỏ vào vào chiến dịch này.

  Năm 1711, Nặc Thâm được Xiêm La hậu thuẩn về nước âm mưu tạo phản,  vua Cao Miên được ta bảo hộ lúc bấy giờ là Nặc Yêm xin quân đến cứu, Nguyễn Cửu Vân cùng tướng Trần Thánh Âm tấu về triều đình, được Chúa cho viết thư bảo tùy nghi phủ dụ,… tình hình Cao Miên sau đó tạm yên.

Mùa đông tháng 10 năm 1714, Nặc Thâm lại đem quân vây đánh Nặc Yêm, lúc bấy giờ Ông là Đô đốc Phiên Trấn, phát binh qua Sài Gòn cùng Phó tướng Trấn Biên Nguyễn Cửu Phú đang đóng ở Lôi Lạp (Gò Công), thủy quân đóng ở Mỹ Tho, cùng tiến quân sang Cao Miên hỗ trợ vua Nặc Yêm, đánh bại Nặc Thâm.

Mùa hạ tháng tư năm 1715, Xiêm La lại tính gây hấn, muốn phát binh giúp Nặc Thâm đánh phá, Nặc Yêm lại qua Gia Định cầu cứu, tướng Nguyễn Cửu Phú và Ông lại ra tay hổ trợ, tình hình Cao Miên lại yên ổn, việc này khẳng định uy thế của Đàng Trong tại khu vực lúc bấy giờ, và Thống binh Trần Thánh Âm và quân binh của Ông đã góp công xương máu không ít cho thành công ấy!

Sau đó Ông mất, hưởng thọ 61 tuổi.

(Bài vị ở chùa Thanh Lương chép Ông mất vào giờ Tuất ngày mồng 9 tháng 5, năm Bính Thân 丙申 (1716).

·      Việc Trần Thánh Âm làm tổng trấn Đồng Nai cũng được thấy trong các ghi chép của văn nhân Quảng Đông thời Thanh. Trong mục "Tạ Xương tử Cao Miên quốc" ở sách “Ngũ Sơn chí lâm” do La Thiên Xích (người Thuận Đức) soạn vào thời Càn Long[1].

·      Trong tập Ngữ Sơn Đường Thi Sao (语山堂诗抄) xuất bản thời Ung Chính (1723–1735) có chép một bài thơ của Xà Tích Thuần (佘锡纯) , chúc mừng Tổng nhung Trần Thành Trai [誠菴]ở An Nam (祝安南诚斋陈总戎),

Phiên âm bài thơ:
Cực tinh dao vọng xuất thù phương,
Mã Viện uy danh lão cánh cường.
Thiên trạch Nam Giao phân nội ngoại,
Địa quy Tần quận cộng âm dương.
Công thành bạc hải ưng mão thổ,
Nguyệt thượng hàn sơn ức Việt hương.
Gia thế nho quán minh tướng lược,
Đôn thi do đới cựu phong quang.

·      Dịch nghĩa:
Từ phương xa trông về phía sao Bắc Cực (biểu tượng cho nhà vua/trung tâm), ông xuất hiện từ một vùng đất khác lạ.
Uy danh của ông như Mã Viện năm xưa, càng già càng mạnh mẽ.
Mệnh trời định vùng Nam Giao (An Nam) phân chia trong ngoài,
Đất đai quy về như quận huyện thời Tần, cùng chung một khí tiết.
Công lao to lớn trải khắp biển khơi, xứng đáng được phong đất phong hầu,
Trăng lên trên núi lạnh, gợi nhớ về quê hương Quảng Đông (Việt hương).
Gia đình vốn dòng dõi nhà Nho lại thông hiểu mưu lược tướng quân,
Dù giữ nghiệp võ nhưng vẫn mang theo nét phong nhã, thanh cao của kẻ sĩ năm xưa.

Xà Tích Thuần佘锡纯 sau này có chân trong “Chiêu Anh Các” Hà Tiên, cùng thi hữu với cháu của Ông Thánh Âm là là Trần Thụy Phượng 陳瑞 .

Ngô Xuyên huyện chí (吳川縣志)

v Trong Ngô Xuyên huyện chí 吳川縣志 biên soạn thời Quang Tự 光绪, cũng có ghi sơ lược về sự tích của cha con Trần Thánh Âm, Thuỵ Trinh và Thuỵ Xương như sau:

          Lại có Trần Thượng Âm [Thượng Xuyên công] 陳上音người thôn Điền Đầu 田頭村, vào thời Khang Hy từng trôi dạt sang An Nam, được làm hiển quan 顯宦 [quan to]. Sau khi Thượng Âm mất, em trai trong tộc họ [tộc đệ 族弟] là Thánh Âm 聖音 kế thừa chức vụ ấy.

Trưởng tử của Thánh Âm là Thuỵ Trinh 瑞禎, [từ An Nam] trở về Ngô Xuyên, đỗ chư sinh 諸生.

Thứ tử (con thứ) của Thánh Âm là Thuỵ Xương 瑞昌, lại kế thừa chức vụ ở An Nam, có trước tác một quyển “Nam du thi tập 南遊詩集”, và một tập “Vi kỳ cục 圍棋局” (thế cờ vây).

          IV- Tổng lược

(theo gia phả Trần Thị tiểu tông Quảng Đông và bài vị ở chùa Thanh Lương, Biên Hòa+thư tịch cổ)   

Ø  Trần Thượng Xuyên qua đời vào năm Canh Thìn 庚辰 hưởng dương 46 tuổi (1655-1700), trước đó Ông đã viết thư gởi về quê hương nhắn người em họ cùng tông tộc (đường đệ 堂弟) là Trần Thánh Âm đến An Nam để kế thừa chức vị.

Ø  Trần Thánh Âm kế vị chức Tổng binh Phiên Trấn, tham gia chinh phạt bình định biên cương cùng quân triều đình. Gìn giữ, phát triển công nghiệp của tướng Trần Thượng Xuyên đã kiến tạo từ trước, sau đó Ông mất mất năm Bính Thân 丙申 hưởng thọ 61 tuổi (1656-1716), con trai là Thuỵ Xương 瑞昌 (Trần Đại Định sinh năm Giáp Tuất 甲戌 1694 tại quê hương, theo cha đến Đồng Nai ) lên kế vị.

Ø   Trần Thuỵ Xương 瑞昌 (Đại Định ) : Trong khoảng năm 1731 đến năm 1732, được Chúa Nguyễn phái dẫn quân bản bộ Long Môn đánh Cao Miên lập nhiều công trận; sau bị quyền thần Trương Phúc Vĩnh vu hãm và chết oan trong ngục. Sau khi được giải oan và được Chúa [Nguyễn Phúc Chú] truy tặng hàm Đô đốc, ba người con trai của Thuỵ Xương (sinh tại An Nam) đã hộ tống linh cữu cha về quê an táng.

Ø   Trần Thiệu Tảo 紹璪 (Đại Lực ), con trai trưởng của Thuỵ Xương 瑞昌 ; sau khi trưởng thành đã rời quê hương đến Hà Tiên, sau đó trở thành tướng (Trần Hầu陳侯) trong quân đội của Mạc Thiên Tứ. Trong cuộc chiến giữa Hà Tiên và Xiêm La, trên đường thoái quân về Hà Tiên, Ông bệnh mất sau đó được an táng cùng vợ tại núi Bình San, Hà Tiên (lập bia năm1770).

Ø  Sau khi Tướng Trần Thượng Xuyên mất Thánh Âm công lập An Khánh tự (nay là chùa Thanh Lương, Biên Hòa, Đồng Nai) để thờ cúng Thượng Xuyên công; hơn 300 năm nay hậu nhân vẫn nhang khói không dứt để tưởng nhớ. Sau khi Thánh Âm công mất, chùa Thanh Lương lập Ngài làm Hậu Tổ sáng lập chùa. Thường niên vào ngày mồng 9 tháng 5 âm lịch (ngày Ông mất); Trụ trì chùa cùng ban quý tế đình Thần Tân Lân luôn tổ chức Kỵ Nhật trọng thể để tán thán, thưởng nhớ công đức của Thánh Âm công ./.

Viết xong tại Trấn Biên, Bính Ngọ-trọng xuân.

Kỷ niệm 310 năm kị nhật Đức Ông Trần Thánh Âm.

Nguyên- Phong Lê Ngọc Quốc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



 

 

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026

 GIẢ THUYẾT VỀ NGUỒN GỐC ĐỊA DANH “ĐỒNG NAI” NAM BỘ:

DẤU TÍCH KÝ ỨC CỐ HƯƠNG TỪ VÙNG VÂN PHONG – NHA-RU- KHÁNH HÒA?

Lê Ngọc Quốc [1]

Dẫn nhập 

Địa danh Đồng Nai- Vũng Nhà Ru (vịnh Vân Phong)

An Nam Đại Quốc họa đồ của linh mục Taberd 1838

Trong nghiên cứu địa danh học Nam Bộ, tên gọi “Đồng Nai” thường được mặc nhiên gắn với miền Đông Nam Bộ, đặc biệt là lưu vực sông Đồng Nai – Biên Hòa. Tuy nhiên, nhiều tư liệu thế kỷ 18-19 cho thấy đã từng tồn tại một địa danh khác mang tên “Dou-nai / Đồng nai / 仝狔” ở vùng ven biển cực bắc Khánh Hòa – nam Phú Yên, quanh khu vực vịnh Vân Phong – Đại Lãnh ngày nay.

Trong lịch sử Nam tiến của dân tộc Việt Nam, mỗi cuộc di dân không chỉ mang theo con người, gia sản và tín ngưỡng, mà còn mang theo ký ức quê hương. Một trong những biểu hiện rõ nhất của ký ức ấy là hiện tượng “mang tên làng cũ đặt cho vùng đất mới”. Đây là hiện tượng phổ biến trong lịch sử di dân thế giới cũng như ở Việt Nam; có nhà thơ đã cảm khái rằng:

…”Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói

Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân...” [1]

Từ nhận xét ấy, kết hợp với các tư liệu địa danh học và truyền giáo của Hội Thừa sai Paris, và sử liệu triều Nguyễn, chúng ta có thể đặt ra một giả thuyết đáng chú ý:

ü  Địa danh “Đồng Nai” ở Nam Bộ có thể đã chịu ảnh hưởng ký ức địa danh hoặc củng cố bởi lớp lưu dân gốc Khánh Hòa – vịnh Vân Phong, vốn mang theo ký ức về một địa danh cổ “Dou-nai / Đồng Nai” đã tồn tại từ trước ở miền Trung.

Bài viết này thử khảo chứng giả thuyết ấy.

I.              Sự tồn tại của một “Đồng Nai” cổ ở miền Trung

Địa danh này xuất hiện liên tục trong:

  • thư từ của các giáo sĩ Hội Thừa sai Paris (MEP),
  • địa chí triều Nguyễn,
  • bản đồ của Jean-Louis Taberd,
  • bản đồ truyền giáo của Adrien Launay.

Sự lặp lại liên tục trong hơn một thế kỷ cho phép khẳng định rằng đây không phải lỗi chép hay sự nhầm lẫn với Đồng Nai nam bộ, mà là một địa danh lịch sử độc lập thuộc hành lang ven biển Vân Phong – Đại Lãnh (Kháng Hòa).

Trong nhiều tài liệu, thư từ của các giáo sĩ Hội Thừa sai Paris (MEP) [2] thế kỷ 17- 18, xuất hiện liên tục một chuỗi địa danh ven biển miền Trung:

  • Nha-ru
  • Dou-nai
  • Nha-tlang

Các địa danh này đều nằm trong hành lang Khánh Hòa – Phú Yên ngày nay.

Đặc biệt, trong các bản đồ:

  • Carte de la Cochinchine (1786), [3]
  • An Nam Đại Quốc Họa Đồ của Taberd (1838),[4]
  • Bản đồ Les Missions Catholiques dans l’Indo-Chine Française của linh mục Adrien Launay (1889),[5]

đều xuất hiện địa danh: Don-nai / Đồng-nai

1. Tư liệu truyền giáo thế kỷ 17- 18.

Nguồn tư liệu quan trọng nhất là bộ: “Lịch sử phái bộ truyền giáo Đàng Trong”

Do linh mục Adrien Launay sưu tập và xuất bản từ tư liệu gốc của Hội Thừa sai Paris.

Đặc biệt về địa danh Dou-Nai ở Bắc Khánh Hòa tài liệu ghi:

Dịch nghĩa: “Tại Nha-ru và Nha-trang

Tôi vừa đi được hai dặm thì bị ốm nặng; tuy nhiên, tôi vẫn đến được Dou-nai, nhà thờ gần nhất; nhưng tôi bị sốt, và không thể cử hành Thánh lễ vào ngày hôm sau. Lo sợ bệnh tình sẽ nặng thêm, tôi đã được khiêng bằng võng đến nhà thờ ở Nha-ru để được chăm sóc mà tôi sẽ không có được ở Dou-nai.” [6]

Chi tiết này chứng minh Dou-nai không chỉ là tên địa hình mà là:

  • một điểm cư trú có cộng đồng giáo dân,
  • có nhà thờ,
  • thuộc mạng lưới truyền giáo ven biển Trung Bộ.

Trong cùng văn cảnh, vị trí Dou-nai nằm giữa:

  • Nha-ru (vịnh Vân Phong)
  • Nha-tlang (Nha Trang)
  • vùng Ciam-pa (đất Chiêm Thành)

nên hoàn toàn không thể là Đồng Nai ở Nam Bộ.

2. “Nha-ru” và hành lang Vân Phong

Các thư truyền giáo mô tả:

  • Nha-ru cách Nha-tlang khoảng một ngày đường,
  • nằm trên tuyến đi Phú Yên,
  • gần vùng núi hiểm trở,
  • gần các vũng biển và đảo nhỏ.

Đến bản đồ An Nam Đại Quốc Họa Đồ năm 1838 của Jean-Louis Taberd, địa danh:

“Vũng nhà-ru”

được ghi rất rõ tại khu vực vịnh Vân Phong – Hòn Khói. Điều này xác nhận rằng:

Nha-ru là một địa danh ven biển thuộc vùng Vân Phong ngày nay.

Đồng thời, trên cùng bản đồ xuất hiện địa danh: “Đồng nai”

ở khu vực phía bắc Khánh Hòa, gần Cap Varella (Mũi Đại Lãnh). Như vậy, Nha-ru và Đồng Nai là hai địa danh kế cận trong cùng hành lang địa lý ven biển.

3. Tư liệu triều Nguyễn: Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí.

Nguồn tư liệu quyết định để định vị Đồng Nai cổ là:

皇越一統輿地志Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí  (1806) của Lê Quang Định.

Trong phần mô tả đường thiên lý thuộc dinh Bình Hòa, sách ghi:

  • 仝狔店 (Đồng Nai điếm)
  • 仝狔林路 (đường rừng Đồng Nai)
  •  [土竜]仝狔 (giồng Đồng Nai) [7] 

Trích: “..Trâm Hòa Huỳnh: đặt lính thường trực ở trạm gồm 17 suất.

 7.900 tầm đến trạm Hòa Mỹ.
395 tầm, là vùng bờ bãi, thuộc địa phận thôn Xuân Mỹ, phía đông là chân núi, tây có nhà cửa dân cư sinh sống, đến láng Củ Chi, láng dài 320 tầm, ngày xưa có cây mã tiền mọc ở đây nên mới gọi là Củ Chi, đến đường điếm Lễ Lâm, đường dài 600 tầm, phía bắc có cư dân thưa thớt, đất thích hợp với cây thuốc lá, thuốc xắt, mùa xuân hè thì trồng bông vải, thu đông thì trồng ngô, lúa gạo, đường toàn đá sỏi rất khó đi, tục gọi là Truông Sỏi, đến điếm Đồng Nai (
仝狔店), thuộc địa phận xã Xuân Sơn, tổng Trung, huyện Quảng Phước, ở điểm này có bán hàng điểm tâm, khách đi đường có thể nghỉ chân.
520 tầm, đường ở đây bằng phẳng, phía đông là chân núi, phía tây là ruộng, dân cư thưa thớt, đất này thích hợp với cây thuốc lá, mùa xuân hè thì trồng bông vải, thu đông trồng ngô, đến đường rừng Đồng Nai (
仝狔 林路). Đường dài 1.139 tầm, hai bên rừng là đồng ruộng, dân cư ở liền nhau, đất ở đây thích hợp với cây bông vải, ngô và thuốc lá. Thời xưa nơi đây dưới thì ruộng núi, lên trên thì hươu nai nên có tên là giồng Đồng Nai ([土竜]仝狔) , đến cầu Bàu Voi, thuộc địa phận thôn Mỹ Lộc, tổng Trung, huyện Quảng Phước. Cầu dài 7 tầm, bàu rộng 5 tầm, dài 200 tầm, trên không có nguồn, dưới không có nhánh, bốn mùa đều có nước, mùa xuân hè thì nước cạn, mùa thu đông do mưa lụt nên nước. sâu. Ngày xưa người ta dụ voi hoang về nuôi ở đây và cho tắm rửa ở bàu này…”

Hành trình này thuộc tuyến thiên lý dinh Bình Hòa (Khánh Hòa).

Đặc biệt, tài liệu giải thích nguồn gốc tên gọi:

“Thời xưa nơi đây dưới thì ruộng núi, lên trên thì hươu nai nên có tên là giồng Đồng Nai.”  Chi tiết này rất quan trọng vì:

1.    xác nhận “Đồng Nai” là địa danh địa phương thật;

2.    cho thấy vùng này thuộc địa hình bán sơn địa;

3.    liên hệ trực tiếp với môi trường rừng núi có nai hoang;

4.    đặt địa danh này vào đúng tuyến thiên lý Khánh Hòa – Phú Yên.

Các địa điểm đi kèm như:

  • Truông Sỏi,
  • Bàu Voi,
  • đèo núi hiểm trở,

đều phù hợp với khu vực Đại Lãnh – đèo Cả hiện nay.

Điều đó chứng minh rằng: tại vùng bắc Khánh Hòa đã từng tồn tại một địa danh lịch sử thật sự mang tên “Đồng Nai”.

4. Bản đồ Taberd 1838

Bản đồ: An Nam Đại Quốc Họa Đồ của linh mục Taberd là tư liệu bản đồ đầu tiên ghi rõ đồng thời:

  • “Vũng nhà-ru”
  • “Đồng nai”

trong cùng khu vực bắc Khánh Hòa.

Điều đáng chú ý là:

  • “Vũng nhà-ru” nằm gần Hòn Khói – Vân Phong;
  • “Đồng nai” nằm gần Cap Varella (Đại Lãnh).

Cách ghi này cho thấy:

  • Nhà-ru thiên về địa danh vũng biển;
  • Đồng Nai thiên về tuyến đường bộ – vùng nội địa ven chân núi.

Sự phân bố ấy phù hợp hoàn toàn với mô tả của Lê Quang Định và thư truyền giáo MEP.

5. Bản đồ truyền giáo của Adrien Launay (1889)

Tư liệu cuối cùng khẳng định sự tồn tại lâu dài của địa danh này là bản đồ:

Các phái đoàn truyền giáo Công giáo ở Đông Dương thuộc Pháp (1889)

Do linh mục Adrien Launay biên soạn. Trên bản đồ vùng Vân Phong – Đại Lãnh xuất hiện rõ: “Đồng-nai” ngay phía dưới Cap Varella.

Điều này rất quan trọng vì:

  • đây là bản đồ truyền giáo,
  • dựa trên tài liệu nội bộ của Hội Thừa sai Paris,
  • kế thừa trực tiếp truyền thống địa lý của các giáo sĩ thế kỷ 18.

Do đó, “Đồng-nai” ở đây phản ánh ký ức địa lý truyền giáo chứ không phải một nhầm lẫn hành chính.

 II. Gia tộc linh mục Laurent Emmanuel Huỳnh Văn Lâu và cuộc Nam tiến cuối thế kỷ 17.

Các nghiên cứu về linh mục người Việt: Laurent Emmanuel Huỳnh Văn Lâu (1660–1732) [8] cho biết:

  • gia tộc họ Huỳnh vốn gốc vùng Lâm Tuyền – Nha Trang;
  • có liên hệ mật thiết với vùng Nha-ru (vùng vịnh Vân Phong);
  • khoảng năm 1680 gia đình linh mục Huỳnh Văn Lâu đã di cư vào Nam khai phá vùng Đồng Nai.

Trong Histoire de la Mission de Cochinchine, Adrien Launay chép:

“Le père de notre P. Laurent, avec une partie de sa famille seulement, pénétra jusqu'en celle de Dou-nai, qui est frontière de Camboge là le bon et pacifique vieillard s'occupait, depuis environ 20 ans, de cultiver une cam-pagne qu'il avait défrichée.”[9]

Dịch nghĩa :

“Thân phụ của cha Laurent, cùng một số thành viên gia đình mình, đã di cư vào vùng Dou-nai, nơi giáp biên giới Cambodge (Cao Miên); tại đó, người lão ông hiền lành và chất phác ấy đã sống khoảng hai mươi năm [1680-1700] chuyên lo khai phá và canh tác một vùng đất mà ông đã tự tay vỡ hoang.”

Đoạn văn này phản ánh đúng hoàn cảnh lịch sử cuối thế kỷ XVII:

  • lưu dân miền Trung tiến vào vùng đất mới;
  • khai phá rừng hoang;
  • lập làng dọc lưu vực Đồng Nai;
  • mở rộng biên giới về phía Nam.

Điều đáng chú ý là:

·      những người đi mở cõi ấy lại xuất thân từ vùng có địa danh “Dou-nai” cổ ở Khánh Hòa.

III. “Mang theo tên làng cũ”: hiện tượng phổ biến trong lịch sử di dân

Trong lịch sử Việt Nam, việc lấy tên quê cũ đặt cho vùng đất mới là hiện tượng rất phổ biến.

Người di cư thường mang theo:

  • tên làng,
  • tên chợ,
  • tên sông,
  • tên phủ huyện,

để đặt cho nơi định cư mới. Đó không chỉ là cách đánh dấu lãnh thổ, mà còn là hành vi văn hóa nhằm bảo tồn ký ức cội nguồn.

Quê hương là chốn gắn bó thân thiết với mỗi con người. Đó không chỉ là nơi có mồ mả tổ tiên ông bà, mà còn là nơi ghi dấu những ký ức đẹp; là nơi mà tâm hồn và bản sắc văn hóa con người được nuôi dưỡng. Lấy địa danh cố hương để đặt tên cho nơi cư trú mới chính là để luôn nhắc nhở con cháu đời sau nhớ về gốc tích tổ tông; và nếu có dịp, sẽ quay về quê cũ để thỏa nỗi niềm khát khao cố hương mà lớp tiền nhân đã gạt nước mắt dứt áo ra đi.”[10]

Trong bối cảnh ấy, giả thuyết rằng:

·      Lưu dân Khánh Hòa đã mang theo địa danh “Đồng Nai” vào Nam Bộ

là điều hoàn toàn có thể xảy ra về mặt lịch sử – tâm lý – văn hóa.

IV. Những dữ kiện ủng hộ giả thuyết

1. Hai địa danh “Đồng Nai” cùng tồn tại trong tư liệu Hội Thừa sai Paris (MEP)

Các tài liệu truyền giáo thế kỷ cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18 [11] cho thấy:

  • Dou-nay (giáo điểm) thuộc provincia Nha-ru (miền Trung),
  • R. Dou-nai (giáo điểm) thuộc provincia Dou-nai (Nam Bộ)

được phân biệt rất rõ.

Điều này chứng minh rằng:

·      “Đồng Nai” không phải chỉ có một địa danh duy nhất trong lịch sử Việt Nam.

2. Dòng di dân Khánh Hòa – Đồng Nai là có thật

Gia đình linh mục Laurent Emmanuel Huỳnh Văn Lâu là trường hợp tiêu biểu:

  • quê gốc Nha-ru/ Nha Trang,
  • sau đó di cư vào Đồng Nai khai khẩn.

Điều này tạo nên mối liên hệ lịch sử trực tiếp giữa hai không gian địa lý cùng mang tên “Đồng Nai”.

3. Đồng Nai Nam Bộ thời kỳ đầu còn là vùng đất mới

Trong tài liệu của “Hội Thừa sai Hải Ngoại Paris MEP, Đồng Nai Nam Bộ được mô tả là:

  • frontière de Camboge (là ranh giới với Cao Miên),
  • vùng rừng khai phá,
  • đất mới canh tác.

Đây có thể là hoàn cảnh thuận lợi để lưu dân đặt tên mới theo ký ức quê cũ.

V. Một giả thuyết địa danh học cần được chú ý

Dĩ nhiên, địa danh “Đồng Nai” Nam Bộ từ lâu đã được giải thích theo nhiều hướng:

  • gốc Khmer,
  • gốc Mạ,
  • gốc Chơ Ro,
  • hay từ đặc điểm sinh thái “đồng có nai”.

Tuy nhiên, các tư liệu về “Dou-nai” miền Trung mở ra một khả năng khác:

“Đồng Nai” Nam Bộ có thể là kết quả của sự giao thoa giữa địa danh bản địa và ký ức địa danh của lưu dân miền Trung.

Nói cách khác:

  • vùng đất Nam Bộ có thể đã có tên bản địa riêng;
  • nhưng lớp lưu dân Việt gốc Khánh Hòa đã góp phần Việt hóa hoặc củng cố tên gọi “Đồng Nai” theo ký ức cố hương của họ.
  • ký ức địa danh Đồng Nai- Khánh Hòa có thể đã góp phần củng cố tên gọi Đồng Nai Nam Bộ.

VI. Kết luận

Các tư liệu truyền giáo, bản đồ cổ và địa chí triều Nguyễn cho thấy:

1.    từng tồn tại một địa danh “Dou-nai / Đồng Nai” ở vùng Vân Phong – Đại Lãnh (Khánh Hòa);

2.    nhiều lưu dân Khánh Hòa vào nữa cuối thế kỷ 17 đã di cư vào khai phá Nam Bộ;

3.    gia tộc linh mục Laurent Emmanuel Huỳnh Văn Lâu là một trường hợp tiêu biểu;

4.    trong lịch sử di dân Việt Nam, hiện tượng mang tên quê cũ đặt cho vùng đất mới là điều phổ biến.

Từ đó, có thể đặt ra một giả thuyết mới:

·      địa danh “Đồng Nai” Nam Bộ có thể mang dấu ấn ký ức cố hương của lớp lưu dân xuất thân từ vùng “Dou-nai- Đồng Nai” cổ ở Khánh Hòa.

Dẫu giả thuyết này cần thêm nhiều tư liệu khảo cổ, ngữ âm học và địa danh học để kiểm chứng, nhưng nó mở ra một hướng tiếp cận mới cho lịch sử Nam tiến:

ü  địa danh không chỉ là dấu hiệu hành chính, mà còn là ký ức văn hóa của những đoàn người ly hương đi mở đất phương Nam ./.



[1] "Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân" trích từ trường ca Mặt đường khát vọng- Đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm

[2] Adrien Launay (1923), Lịch sử phái bộ truyền giáo Cochinchina, Tài liệu lịch sử, Paris.

 [6] Adrien Launay (1923), Lịch sử phái bộ truyền giáo Cochinchina, Tài liệu lịch sử, tom II. Paris, trang 131

 [7]  Lê Quang Định  (1806)- Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, Nxb Thuận Hóa 2005. Dinh Bình Hòa. quyển hai trg 47.

 [8]  Linh mục Gioan Nguyễn Đình Đệ (2021)- Một danh nhân văn hóa bị lãng quên - Cha Laurent Emmanuel Huỳnh Văn Lâu (1660-1732). https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/mot-danh-nhan-van-hoa-bi-lang-quen-cha-laurent-emmanuel-huynh-van-lau-1660-1732--42705#_ftnref1

[9] Adrien Launay, Histoire de La Mission de Cochinchine, Documents historiques I, 1658-1728, Paris, 1923, p. 467.

(nội dung bản tường trình của linh mục Gouge về cuộc bách hại năm 1700 từ Phan Rí đến Nha-rou)

[10] Lê Ngọc Quốc (2018), Tập san Nam Bộ Đất & Người,  tập XIII, Hội KHLS Tp Hồ Chí Minh- Xứ Nhật Bản ở Nam bộ xưa. Nxb Đại Học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh. trang 812.

[11]  Adrien Launay, Histoire de La Mission de Cochinchine, Documents historiques II, 1658-1728, Paris, 1923, p. 190.

Viết nhân dịp thành lập “Thành Phố Đồng Nai”

Nguyên – Phong Lê Ngọc Quốc.


Địa danh Đồng Nai (vịnh Vân Phong- Khánh Hòa)

 Bản đồ của linh mục Adrien Launay- 1889

 Vùng Nha Ru và giáo điểm Nha ru (vịnh Vân Phong- Khánh Hòa),

vùng Don nai và giáo điểm Don nai (Đồng Nai) trên bản đồ 1786

Vùng Nha-ru và giáo điểm Dou-nay - vùng Dou-nai và giáo điểm R Dou-nai (Đồng Nai)

Adrien Launay, Histoire de La Mission de Cochinchine, Documents historiques II, 1658-1728, Paris, 1923, p. 190