Vị thế lịch sử của Trần Thượng Xuyên qua các nguồn sử liệu về sự kiện nhóm di thần nhà Minh (1679–1689)
Lê Ngọc Quốc[1]
KHẢO CỨU ĐỐI CHIẾU SỬ LIỆU
Tóm tắt
Bài viết tổng hợp
và đối chiếu các nguồn sử liệu Việt Nam và ngoại văn liên quan đến sự kiện nhóm
di thần nhà Minh (gồm Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến và các tướng lĩnh liên quan)
đến Đàng Trong năm 1679, cũng như biến cố năm 1688–1689. Trên cơ sở so sánh các
thư tịch như Đại Nam liệt truyện, Đại Nam
thực lục, Gia Định thành thông chí, Phủ Biên tạp lục, Nam
triều công nghiệp diễn chí và nguồn phương Tây, bài viết đặt lại vấn đề về
vai trò và vị thế lịch sử của Trần Thượng Xuyên trong sự kiện này.
1. Dẫn nhập
Sự kiện nhóm “bô
thần Minh mạt” đến An Nam năm Kỷ Mùi (1679) là một mốc quan trọng trong tiến
trình hình thành cộng đồng Minh Hương và sự phát triển vùng Nam Bộ. Tuy nhiên,
các nguồn sử liệu ghi chép không đồng nhất, đặc biệt liên quan đến nhân vật Trần
Thượng Xuyên.
Bài viết nhằm:
- Hệ
thống hóa các ghi chép sử liệu
- Đối
chiếu dị bản
- Đặt
vấn đề về tính xác thực và diễn biến vai trò của nhân vật.
2. Nguồn tư liệu và phương pháp
2.1. Nguồn tư liệu chính
·
Đại
Nam liệt truyện tiền biên (khởi soạn năm 1841 in năm 1889)
- Đại Nam thực lục tiền biên (khởi
soạn năm 1821- in năm1844)
- Gia Định thành thông chí ( dâng
sách năm 1820)
- Phủ Biên tạp lục (năm 1776)
- Nam triều công nghiệp diễn chí ( năm 1719)
- Histoire
du Cambodge (Adhémard Leclère, xb năm 1914)
2.2. Phương pháp
- So
sánh sử liệu (textual comparison)
- Phân
tích niên đại
- Đánh
giá độ khả tín theo thời điểm biên soạn
Từ khóa
Trần Thượng Xuyên, Đàng Trong, Dương Ngạn Địch, Sử
liệu học.
Mở đầu
A- ĐIỂM QUA NỘI DUNG CÁC THƯ TỊCH
I.
Đại
Nam liệt truyện tiền biên[2]
(khởi soạn năm
1841 in năm 1889)
Lược trích:
Trần Thượng Xuyên tự là Thắng Tài, người tỉnh Quảng Đông, làm quan Tổng
binh nhà Minh. Khi nhà Minh mất, giữ nghĩa không làm tôi nhà Thanh. Thái Tông
Hoàng Đế năm thứ 31, Kỷ Mùi [1679], mùa xuân, cùng với Long Môn Tổng binh Dương
Ngạn Địch, Phó tướng Hoàng Tiến và Trần Bình An đem biền binh, gia quyến hơn
3000 người và hơn 50 chiến thuyền đến đỗ ở các cửa biển Tư Hiền và Đà Nẵng, tự
bày tỏ rằng: “Chúng tôi là bọn bô thần nhà Đại Minh, hết lòng trung vì nước, sức
kiệt thế cùng, vận nhà Minh đã hết, chúng tôi không chịu thờ nhà Thanh, sang
đây dâng lòng thành, xin làm tôi tớ”. Triều đình bàn rằng, họ khác phong tục,
khác tiếng nói, thình lình kéo đến cũng khó khu xử, nhưng họ cùng bách mà đến với
ta, ta không nỡ cự tuyệt. Miền Đông Phố của Chân Lạp đất rộng, đồng tốt bát
ngát nghìn dặm, triều đình chưa kinh lý, chi bằng lấy sức của họ cho mở đất mà ở.
Thế là làm một việc mà được ba điều lợi. Chúa ưng thuận, ban khen thiết yến và
yên ủi họ, rồi trao cho làm quan chức, cho đến ở tại Đông Phố.
Trần Thượng Xuyên cùng bọn Dương
Ngạn Địch đến cửa khuyết tạ ơn mà đi. Thượng Xuyên vào cửa biển Cần Giờ đóng ở
Bàn Lân (nay thuộc Biên Hòa). Ngạn Địch và Hoàng Tiến vào cửa biển Soài Rạp
(Lôi Lạp) đóng ở Mỹ Tho (nay thuộc Định Tường). Họ khai khẩn đất bỏ không, dựng
phố xá. Người nhà Thanh cùng thuyền buôn các nước Tây dương, Nhật Bản và Chà Và
đến tụ tập buôn bán đông đúc. Bởi thế phong hóa văn minh ngày dần thấm nhuần
vào Đông Phố.
Năm Mậu Thìn [1688], Anh Tông Hoàng Đế năm đầu, mùa hạ, Hoàng Tiến giết chủ
tướng Dương Ngạn Địch ở cửa biển Mỹ Tho, tự xưng là Phấn Dũng Hỗ uy Tướng quân,
đóng quân ở Nam Khê (nay thuộc huyện Kiến Hòa, tỉnh Định Tường), cướp bóc nước
Chân Lạp. Tin này lên đến triều đình, chúa sai Phó tướng doanh Trấn Biên Mai Vạn
Long đem quân đi đánh. Hoàng Tiến chạy đi rồi chết. Vạn Long chiêu tập những
quân Long Môn còn lại, giao cho Thượng Xuyên quản lĩnh, làm tiên phong, đóng
quân ở Doanh Châu (nay thuộc Vĩnh Long), kế đó tiến đánh Chân Lạp và thắng được
[3].
Tóm lược:
1)
Chép
đủ 2 sự kiện và 4 nhân vật:
·
Dương
Ngạn Địch (chủ tướng)
·
Hoàng
Tiến (phó tướng)
·
Trần
Thượng Xuyên (chủ tướng)
·
Trần
An Bình (phó tướng)
2)
Về
thời gian:
·
Kỷ
Mùi (1679), mùa xuân đến Đà Nẵng.
·
Mậu
Thìn (1688), mùa hạ Hoàng Tiến giết chủ tướng Dương Ngạn Địch ở cửa biển Mỹ
Tho.
3)
Về
số lượng quân binh, thuyền:
·
Hơn
50 chiến thuyền, biền binh và gia quyến hơn 3000.
II.
Đại Nam thực lục tiền biên[4] (soạn năm 1821- in năm1844)
Lược trích:
Kỷ mùi, năm thứ 31 [1679], mùa xuân, tháng giêng, tướng cũ nhà Minh là Long
Môn tổng binh Dương Ngạn Địch và Phó tướng Hoàng Tiến, Cao Lôi Liêm, Tổng binh
Trấn Thượng Xuyên và phó tướng Trần An Bình đem hơn 3.000 quân và hơn 50 chiến
thuyền đến các cửa biển Tư Dung và Đà Nẵng, tự trần là bô thần nhà Minh, nghĩa
không chịu làm tôi nhà Thanh, nên đến để xin làm tôi tớ. Bấy giờ bàn bạc rằng:
Phong tục tiếng nói của họ đều khác, khó bể sai dung, nhưng họ bị thế cùng
bức bách đến đây thì không nỡ cự tuyệt. Nay đất Đông Phố (tên cố của Gia Định)
nước Chân Lạp đồng ruộng phì nhiêu nghìn dặm, triều đình chưa rỗi mà kinh lý,
chỉ bằng nhân lấy sức của cho đến khai
khẩn để ở, làm một việc mà lợi ba điểu. Chúa theo lời bàn, bèn sai đặt yến úy lạo
khen thưởng, trao cho quan chức khiến đến ở đất Đông Phố.
Lại cáo dụ nước Chân Lạp rằng như thế là có ý không để nước Chân Lạp ra
ngoài. Bọn Ngạn Địch đến cửa khuyết tạ ơn để dí. Binh thuyền của Ngạn Địch và
Hoàng Tiến vào cửa Lôi Lạp (nay thuộc Gia Định), đến đóng ở Bàn Lân [盤轔]
(nay thuộc Biên Hòa). Họ vỡ đất hoang, dựng
phố xá, thuyền buôn của người Thanh và các nước Tây Dương, Nhật Bản, Chà Và đi
lại tấp nập, do đó mà phong hóa Hán [phong hóa văn minh] thấm dần vào đất Đông
Phố [5].
Mậu Thìn (1688)… tháng 6, phó tướng Long Môn Hoàng Tiến giết chủ tướng là
Dương Ngạn Địch ở cửa biển Mỹ Tho[6] .
Kỷ Tỵ, năm thứ 2
[1689], mùa xuân tháng giêng. Mai Vạn Long kéo quân đến cửa biển Mỹ Tho, đóng ở
Sầm Khê [7]…
Văn Thông về báo
cáo với Vạn Long. Vạn Long lại sai Văn Thông đi mời Tiến, mà đặt phục binh ở chỗ
hiểm yếu để chờ. Quả nhiên Tiến đi thuyền ra sông đến hội. Phục binh vùng dậy,
bốn mặt đánh vào, Tiến bỏ thuyền chạy, nhắm lẫn về phía cửa biển Lôi Lạp. Vạn
Long vào lũy, bắt được vợ con Tiến đều chém cả, chiêu tập dư chúng quân Long
Môn, sai bộ tướng của Dương Ngạn Địch là Trần Thượng Xuyên [楊彥迪部將陳上川]
quản lãnh để làm tiên
phong. Thừa thắng,
Vạn Long tiến đánh Nặc Thu, đốt đứt xích sắt ngang sông, liên tiếp lấy được ba
lũy Bích Đôi, Cầu Man và Nam Vang. Nặc Thu lui giữ thành
Long Úc [8].
Tóm lược:
1)
Chép
đủ 2 sự kiện và 4 nhân vật:
·
Dương
Ngạn Địch (chủ tướng)
·
Hoàng
Tiến (phó tướng)
·
Trần
Thượng Xuyên (chủ tướng)
·
Trần
An Bình (phó tướng)
2)
Về
thời gian:
·
Kỷ
Mùi (1679), mùa xuân, tháng giêng đến Đà Nẵng.
·
Mậu
Thìn (1688), tháng sáu Hoàng Tiến giết chủ tướng là Dương Ngạn Địch ở của biển
Mỹ Tho.
·
Kỷ
Tỵ, ((1689), mùa xuân tháng giêng mùa xuân tháng giêng, Mai Vạn Long kéo quân đến
cửa biển Mỹ Tho.
3)
Về số lượng quân binh, thuyền:
·
Hơn
50 chiến thuyền và quân hơn 3000.
III-
Gia
Định thành thông chí[9] (
dâng sách năm 1820)
Lược trích:
Tháng 5 mùa hạ năm thứ 32, Kỷ Mùi [1679] (Lê Hy Tông niên hiệu Vĩnh Trị thứ
4, Đại Thanh Khang Hy thứ 18), quan Tổng binh thủy lục trấn thủ các xứ ở Long
Môn thuộc Quảng Đông nước Đại Minh là Dương Ngạn Địch và Phó tướng Hoàng Tiến,
quan Tổng binh trấn thủ các xứ Cao, Lôi, Liêm là Trần Thắng Tài, Phó tướng Trần
An Bình dẫn quân và gia nhân hơn 3000 người cùng chiến thuyền hơn 50 chiếc xin
được vào Kinh bằng hai cửa Tư Dung và Đà Nẵng (nay là cửa Hàn thuộc Quảng Nam).
Sớ tâu lên rằng số người này tự xưng là người nhà Minh bỏ trốn đi, họ thề quyết
tận trung với nước, nhưng nay đã thế cùng lực tận, vận nhà Minh đã dứt, họ
không thể thần phục triều Thanh nên chạy sang nước Nam nguyện được làm dân mọn.
Lúc ấy ở Bắc Hà đang có biến, vả lại họ ở xa mới đến, hư thực chưa hay, lại y
phục ngôn ngữ bất đồng, nhất thời thật khó giải quyết ngay. Nhưng họ đang cùng
quẩn mà chạy sang, lại tỏ bày lòng trung thực, về nghĩa cũng không thể từ chối
được; vả lại xứ Đông Phố (một tên khác của đất Gia Định xưa) [...], đất đai màu
mỡ có đến ngàn dặm, triều đình chưa rỗi để lo liệu, chi bằng tận dụng sức lực của
họ, giao cho họ khai hoang đất đai để ở, ấy cũng là một cách làm mà được ba điều
lợi. Nghĩ vậy, triều đình mới tổ chức khao đãi ân cần, chuẩn y cho giữ nguyên
chức hàm, phong cho quan tước rồi lệnh cho tới Nông Nại (Đồng Nai) làm ăn, gắng
sức khai thác đất đai. Mặt khác, triều đình còn hạ chỉ dụ cho Quốc vương Cao
Miên (Thủy Chân Lạp) biết việc ấy để không xảy ra chuyện ngoài ý muốn.
Được lệnh, các ông Dương, Trần vào Kinh tạ ơn rồi phụng chỉ lên đường. Bọn
tướng Long Môn họ Dương đem binh thuyền tiến nhanh vào cửa Xoài Rạp (nay gọi là
Lôi Lạp [Soi Rạp 𣒱鬣] ) và cửa Đại cửa Tiều (thuộc trấn Định Tường) dừng trú
tại xứ Mỹ Tho (nay là trấn lỵ của Định Tường). Bọn tướng các xứ Cao, Lôi, Liêm
họ Trần thì đem binh thuyền tiến vào cửa Cần Giờ 芹除 rồi đồn trú tại xứ Bàn Lân 盤轔
thuộc Đồng Nai (nay là lỵ sở trấn Biên Hòa). Họ lo mở mang đất đai, lập thành
phố chợ, giao thông buôn bán. Tàu thuyền người Hoa, người phương Tây, người Nhật,
người Đồ Bà (Chà Và), tụ tập tấp nập, phong hóa Trung Quốc dần dần lan ra thấm
đượm cả vùng Đông Phổ (Phố) [10].
Tháng 6, mùa hạ năm thứ 2, Mậu Thìn (1688)… Phó tướng Long Môn là Hoàng Tiến
sinh lòng kiêu mạn, y cầm quân tấn công giết Dương Ngạn Địch, rồi dời đến đóng ở
xứ Rạch Năn…Tháng 10 mùa đông, triều đình sai phó tướng dinh Thái Khang là Vạn
Long hầu làm Thống suất, Thắng Long hầu và Tân Lễ hầu làm tả hữu vệ trận, Vị
Xuyên hầu làm tham mưu cầm quân đi chinh phạt Hoàng Tiến, đồng thời ủy cho quyền
mưu tính việc mở mang biên cương [11]…
Gia Định thành thông chí, quyển 6, Thành Trì chí chép
thêm:
TRẤN ĐỊNH TƯỜNG
Lỵ sở trấn Định Tường ở đất thôn Mỹ Chánh, tổng Kiến Thạnh, huyện Kiến Hòa.
Ngày 18 tháng 2 mùa xuân năm Kỷ Mùi [1679] đời Thái Tông năm thứ 32 (Chúa Hiền
Nguyễn Phúc Tần), tướng Long Môn là Dương Ngạn Địch từ nước Đại Minh sang kinh
xin quy phụ. Vua sai Xá sai là Văn Trinh, Tướng thần lại là Văn Chiêu đưa dụ
văn sang vua Cao Miên là Nặc Thu, bảo chia đất này cho đoàn Dương Ngạn Địch ở.
Tháng 5, Văn Trinh dẫn cả binh biền Long Môn và thuyền bè đến đóng ở vùng Mỹ
Tho, rồi xây dựng nhà cửa, qui tụ người Việt, người Thổ kết thành thôn xóm [12]…
Tóm lược:
1)
Chép
đủ 2 sự kiện và 4 nhân vật:
·
Dương
Ngạn Địch (chủ tướng)
·
Hoàng
Tiến (phó tướng)
·
Trần
Thắng Tài (chủ tướng)
·
Trần
An Bình (phó tướng)
2)
Về
thời gian:
·
Kỷ
Mùi (1679) nhưng lại có 2 mốc:
1-
Cương
vực chí chép: tháng 5, mùa hạ đến Đà Nẵng.
2-
Thành
trì chí chép: ngày 18 tháng 2 mùa xuân năm Kỷ Mùi (1679) đời Thái Tông năm thứ
32, sang kinh xin quy phụ, tháng 5 đến Mỹ
Tho.
·
Mậu
Thìn (1688), tháng 6, mùa hạ Hoàng Tiến giết Dương Ngạn Địch, tháng 10 mùa
đông, triều đình sai Mai Vạn Long chinh phạt…
3)
Về
số lượng quân binh, thuyền:
·
Hơn
50 chiến thuyền và quân và gia nhân hơn 3000.
Lời bàn:
1.
Sách
Gia Định thành thông chí được Trịnh Hoài Đức chép lại từ nhiều nguồn sau khi sự
kiện xảy ra hơn 130 năm.
2.
Hai
tài liệu Trịnh Hoài Đức dùng tham khảo là : Phủ Biên tạp lục (1776) của Lê Quý
Đôn) và “Việt Nam khai quốc chí truyện (1719( của Nguyễn Khoa Chiêm. Ghi trong
quyển 3, Cương vực chí: …Sách “Nam Việt chí” của Nguyễn Bảng Trung [13]
chép là Nặc Ô Đài; sách “Phủ Biên tạp lục” của Lê Quý Đôn chép là Nặc
Đài [14].
3.
Trong
sách này, tác giả chép vị Trần tổng binh lần lược là:
“Trần Thắng Tài”[15]
“Thắng Tài Hầu”[16],
“Trần tướng quân [17]”
và “ Thượng Xuyên công” (qua lời Trần Đại Định)[18].
4.
Cùng
1 sự kiện, sách chép sai biệt về thời gian:
1.
Quyển
2, Xuyên Sơn chí: tháng 5 mùa hạ năm thứ 32, Kỷ Mùi (1679).
2.
Quyển
6, Thành Trì chí: ngày 18 tháng 2 mùa xuân năm Kỷ Mùi (1679).
IV-
Phủ
Biên Tạp Lục [19]
(hoàn tất năm 1776)
Lược trích:
Kỉ Mùi [1679], Hy Tông, năm Vĩnh Trị thứ 4, tháng 5, bô thần nhà Đại Minh
là Long Môn tướng quân Dương Ngạn Địch đem hơn 50 chiếc thuyền và hơn 3.000 người
lính đậu ở ngoài khơi của biển Tư Dung, Đà Nẵng. Họ sợ quân Thuận Hoá nên không
dám vào Tư Dung. Thủ tướng sai người ra để hỏi. (Dương) Ngạn Địch treo cờ trắng
và xin hàng. (Nguyễn) Phúc Tần lập tức truyền lệnh cho họ đến ở nước Cao Miên
và khuyên vua nước Cao Miên chia đất cho bọn (Dương) Ngạn Địch ở cửa biển Mỹ
Tho để kết nghĩa làm anh em và hằng năm dâng lễ cống [20].
Năm Mậu Thìn [1688]…Long Môn Tướng Quân là Hoàng Tiến giết Dương Ngạn Địch ở
cửa biển Mỹ Tho, rồi đến đóng đồn tại Rạch Than, giữ chỗ hiểm hóc để cướp bóc.
Vua Cao Miên là Nặc Thu cũng cho xây luỹ ở Nam Vang, Cầu Nam và Gò Bích, đóng
bè nổi có khoá sắt để chắn ngang cửa biển. Nặc Thu còn chế chiến thuyền, đúc đại
bác và cấm khách buôn bán qua lại. Nặc Nộn chạy tới để báo cáo.
Tháng 11, lệnh cho Phó Tướng ở Dinh Nha Trang thuộc Trấn Biên là Vạn Long Hầu
làm Thống Binh, Thắng Long Hầu và Tân Lễ Hầu làm Tả Hữu Vệ Tướng Quân, Chính
Dinh Thủ (Hợp) là Văn Phái làm Tham Mưu, Hoàng Tiến làm tiên phong để cùng đi
đánh.
Vào đến cửa biển Mỹ Tho thì đóng ở Rạch Gầm và sai người dụ dỗ Hoàng Tiến đến
họp ở giữa sông rồi phát phục binh, phá tan luỹ (của Hoàng Tiến). Hoàng Tiến bỏ
chạy rồi chết. Thừa thắng, đến phá luỹ Gò Bích và vây hãm thành Nam Vang. Nặc
Thu sai sứ ra xin hàng và hứa sẽ dâng lễ cống.
Vạn Long lui binh để đợi tin cả năm mà không chịu tiến. Số quân sĩ bị lâm bệnh
và hao tổn rất nhiều, các thuộc tướng cùng nhau kí tên vào một bản mật trình về
tình trạng lưu quân quá lâu ngày gây nhiều tổn hại.
Kỉ Tị, năm thứ 10 [1689], mùa đông, lệnh cho con của Chiêu Vũ là Hào Lương
Hầu thay quyền làm tướng, Văn Chức là Hoà Nghĩa Hầu làm Tham Mưu, Thắng Sơn Hầu
làm Tiên Phong. Chọn những người cường tráng từ phủ Phú Yên đến xứ Phan Lý làm
lính. Sai sứ đi bắt Vạn Long đem về giao cho các tướng hội bàn ở gác Triều
Dương, hỏi tội, bãi chức và giáng xuống làm thứ nhân, giáng Văn Phái làm Tướng
Thần Lại. Canh Ngọ, năm thứ 11 (1690), đi đánh Cao Miên và thắng trận, nhân đó
phong cho Tù Trưởng của nước ấy làm Vua [21].
Tóm lược:
1)
Chép
đủ 2 sự kiện và chỉ có 2 nhân vật:
·
Dương
Ngạn Địch (chủ tướng)
·
Hoàng
Tiến (phó tướng)
2)
Về
thời gian:
·
Kỷ
Mùi (1679) tháng 5 đến Đà Nẵng, Chúa lập tức truyền lệnh vào Mỹ Tho.
·
Mậu
Thìn (1688), Hoàng Tiến giết Dương Ngạn Địch, tháng 11 mùa đông, Chúa lệnh cho
Vạn Long Hầu (Mai Vạn Long) đi chinh phạt, sau đó giết Hoàng Tiến…
3)
Về số lượng quân binh, thuyền:
·
Hơn
50 chiến thuyền và hơn 3000 lính.
Lời bàn:
Toàn bộ trong các sự kiện ngoài 1
vài sai biệt mốc thời thời gian, nhưng không thấy chép tên: Thắng Tài Hầu-
Trần Thượng Xuyên.
Sách này được Lê Quý Đôn viết sau sự kiện gần 90 năm, tài liệu thu thập từ
công văn, sớ tấu, thư tịch lưu trữ ở Huế (Thuận Hóa).
V-
Nam
Triều công nghiệp diễn chí [22]
(xuất bản năm 1719)
Lược trích:
Năm Kỷ Mùi, niên hiệu Vĩnh Trị thứ tư [1679]…Lại
nói năm ấy, người nước Đại Minh là đãng khấu tướng quân Dương Ngạn Địch cầm
quân trấn thủ thành Long Môn đến nước ta [23].
[Trước
đó ở Long Môn]… thế chạy không thoát, Ngạn Địch bèn đưa hơn 200 chiến thuyền
ra biển Đông trốn tránh ở gần vùng biển nước ta…
Bỗng hạ tuần tháng Giêng, gặp hôm mây
mù dày đặc bốn phía, trời gió to bão lớn nổi lên, sóng biển trắng xóa dâng cao
ngút trời, đoàn chiến thuyền của Dương Ngạn Địch khó dừng cụm được một nơi,
không bao lâu bị sóng đánh trôi dạt khắp bốn phía, nhiều thuyền bị đắm, quân
lính chết đuối không biết bao nhiêu mà kể. Đến khi gió yên sóng lặng, Dương Ngạn
Địch thu thập số còn lại, điểm thấy mất đến quá nửa, tất cả chỉ còn hơn năm chục
chiến thuyền với hơn ba nghìn quân sĩ [24]…
Ngày mười tám tháng ấy… Dương Ngạn Địch
cả mừng bèn viết biểu văn xin đầu hàng rồi sai Hoàng Tiến và Quách Tam Kỳ
theo Trí Thắng hầu vào vương đình dâng lễ, tâu bày đầu đuôi việc thua trận và
tình cảnh khốn bức muốn xin đầu hàng để có chốn nương thân.[25]
Hiền vương xem xong biểu văn, lại nghe
bọn Hoàng Tiến tâu bày, lấy làm thương xót, bèn truyền chỉ cho phép được đầu
hàng. Lại ban cho tiền gạo, vải vóc, rượu thịt để an ủi cho binh chúng khỏi sợ
hãi [26].
Năm Mậu Thìn, niên hiệu Chính Hòa thứ
chín [1688]…Bấy giờ người nước Minh là Dương Ngạn Địch năm trước được phép cư
trú ở vùng cửa bể Mỹ Tho địa giới Cao Miên, bị thuộc tướng là Hoàng Tiến âm mưu
giết hại. Rồi Hoàng Tiến đoạt lấy thuộc hạ quân lính, tự xưng là Phấn dũng hổ
uy đại tướng quân, cai quản đồ đảng Long Môn. Hoàng Tiến cho quân đến đóng giữ
chỗ hiểm yếu ở Khe Trúc gọi là Rạch Tre, dựng đồn đắp lũy, đóng chế nhiều bè nổi
và xích sắt để chắn ngang cửa biển. Tiến thường cho quân quấy nhiễu các nơi dân
cư của nước Cao Miên. Sứ giả của Cao Miên mang lễ vật hoặc tiền thuế sang cống
nạp cũng thường bị bọn Tiến cho quân chặn cướp. Tiến còn uy hiếp bắt ép Nặc Nộn
phải xẻ ván để đóng thuyền, hoặc mười ngày một kỳ hoặc hai mươi ngày một kỳ phải
nộp đủ số, nếu không nộp đủ thì phải bị phạt ba mươi hốt bạc [27]…
Thượng tuần tháng Mười, ở Nam Triều,
Ngãi Vương ngự triều, các quan văn võ vào chầu mừng. Bỗng có sứ giả của vua Cao
Miên vào dâng biểu tâu. Ngãi vương xem xong biểu văn cả giận mắng rằng:
- Gã Nặc Thu dám manh tâm làm phản chống lại
Nam triều ta chăng? Còn Hoàng Tiến chỉ là tên giặc cùng đường, lênh đênh cướp
bóc ngoài biển, không chốn dung thân, may được Tiên vương ta thương xót cho trú
ngụ ở đó. Sao hắn dám bất tuân vương mệnh, lại còn manh tâm làm nghịch tặc giết
hại dân lành? Không thể dung tha cho hắn được! [28]
…Bấy giờ Tham mưu Thủ hạp Văn Vị tử và
các tướng sĩ hành chính đều vái vọng lĩnh mệnh, chọn ngày hai mươi lăm tháng Mười
khởi hành. Hạ tuần tháng Mười Một đến dinh Trấn Biên [Phú Yên]. Phó tướng Vạn
Long ra ngoài thành mấy dặm nghênh đón, mời các tướng của triều đình đem quân
vào thành. Hai bên phân ngôi chủ khách cùng ngồi. Tham mưu Văn Vị tử cùng các
sai nhân của Ngãi vương tuyên đọc lệnh chỉ sai Trấn thủ cùng các tướng ở dinh
Trấn Biên [Phú Yên] đem quân đi đánh dẹp Cao Miên. Phó tướng Vạn Long cùng các
tướng lạy tạ vâng mệnh, rồi chỉnh điểm binh mã khí giới, cờ xí, thuyền bè, định
ngày mười bảy tháng Mười Hai đưa quân rời dinh Trấn Biên [Phú Yên] chia đường
tiến về phía Cao Miên [29].
Năm Kỷ Tỵ niên hiệu Chính Hòa thứ mười
[1689], hạ tuần tháng Giêng quân sĩ của Thống binh Vạn Long hầu đã đến địa giới
Cao Miên, vào cửa biển Mỹ Tho rồi tiến thẳng đến Rạch Gầm dừng lại dàn quân
đóng trại. Vạn Long hầu trước hết sai người đến Rạch Le truyền chỉ dụ lấy Hoàng
Tiến làm Tiên phong, đem quân bản bộ vâng lệnh đi đánh Nặc Thu, sau là thám
thính tình hình thành lũy doanh trại, đường sá ra vào, quân số nhiều ít ra sao,
trở về trình báo để biết rõ hư thực, thuận tiện cho việc tiến quân.
Bấy giờ, nghe tin Vạn Long hầu đem
quân đến, vua thứ hai Cao Miên là Nặc Nộn cả mừng, liền đến quân doanh chào mừng,
trình bày nguyên do việc Nặc Thu, Hoàng Tiến như thế, mong Thống binh nghĩ cách
trừ đi. Vạn Long nói: “Quý ông Nặc Nộn chớ lo, Vạn Long tôi đã có cách”. Nặc Nộn
nghe xong cáo từ ra về sửa sang binh khí để sẵn sàng tiến phát. Chưa biết Thống
binh Vạn Long chia quân tiến đánh thắng bại thế nào [30]…
[sách
còn vài dòng sau thì kết thúc, không chép việc giết Hoàng Tiến và tiến đánh Cao
Miên].
Tóm lược:
1)
Chép
đủ 2 sự kiện và chỉ có 2 nhân vật:
·
Dương
Ngạn Địch (chủ tướng)
·
Hoàng
Tiến (tướng dưới quyền)
2)
Về
thời gian:
·
Kỷ
Mùi (1679) đến Đà Nẵng : ngày mười tám tháng ấy (!)… (có thể là tháng hai), và
không chép thời gian vào Mỹ Tho.
·
Mậu
Thìn (1688), có tin Hoàng Tiến giết Dương Ngạn Địch, rồi đến thượng thuần tháng
10 (1688) sứ Cao Miên đến dâng biểu cho Ngãi Vương [chúa Nguyễn Phúc Thái
(1649-1691) ] Đại binh tập hợp, định ngày mười bảy tháng mười hai (1688) xuất phát đi chinh phạt Cao Miên, hạ tuần
tháng giêng (1689) thì đến cửa biển Mỹ Tho, sau đó thì không chép việc giết
Hoàng Tiến.
3)
Về
số lượng quân binh, thuyền:
·
Ban
đầu hơn 200 chiến thuyền,
sau bị giông bão còn hơn 50 chiến thuyền.
·
Ban
đầu không rõ số lượng bao nhiêu, sau giông bão còn hơn 3000 quân.
Lời bàn:
Toàn bộ trong các sự kiện ngoài 1 vài
sai biệt mốc thời thời gian, nhưng không thấy chép tên nhân vật: Thắng
Tài Hầu- Trần Thượng Xuyên.
Sách "Nam triều công nghiệp diễn
chí" này được viết sau “sự kiện”
khoảng 30 năm, khi đó tác giả 20 tuổi và đang ở Thuận Hóa. Nguyễn Khoa
Chiêm (1659–1736) là một công thần triều chúa Nguyễn, tự Bảng Trung, tước Bảng
Trung Hầu, quê gốc ở Hải Dương, sinh ra tại Huế, là quan lại thời Lê trung hưng
phục vụ hai chúa Nguyễn Phúc Chu và Nguyễn Phúc Chú.
Tác
phẩm "Nam triều công nghiệp diễn chí" (南朝功業演志)
(1719) là 1bộ tiểu thuyết lịch sử chữ Hán quý giá khắc họa công lao khai quốc của
các chúa Nguyễn. Sách cung cấp tư liệu lịch sử quan trọng về thời kỳ Nam-Bắc
triều và thời chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
Ø
Như
vậy, khó có thể tác giả lại không biết nhân vật và bỏ sót “chủ tướng của đoàn thứ hai là Thắng Tài Hầu-Trần
Thượng Xuyên”
B-
VỀ
NHÂN VẬT TRẦN THƯỢNG XUYÊN
1-
TRUY
VẤN
Hai
tác phẩm của Quốc sử quán triều Nguyễn là “Đại Nam liệt truyện tiền biên” và Đại
Nam thực lục tiền biên” khi chép về sự kiện “nhóm bô thần Minh mạt đến An Nam”
đều tham khảo từ sách “Gia Định thành thông chí” của quan Trịnh Hoài Đức.
Khi
soạn viết “Gia Định thành thông chí” Trịnh Hoài Đức đã có tham khảo 2 sách xuất
bản gần “Sự kiện” đó là “Phủ Biên tạp lục” năm 1776 và “Nam Triều công nghiệp
diễn chí” năm 1719.
Như
đã dẫn trên, 2 sách “Phủ Biên tạp lục” và “Nam Triều công nghiệp diễn chí”
không chép nhân vật “Chủ tướng Trần Thượng Xuyên của đoàn thứ hai”;
từ đó đưa chúng tôi đến câu hỏi:
Ø
Nhân
vật Trần Thượng Xuyên liệu có đồng cấp và xuất hiện cùng trong đoàn của Dương
Ngạn Địch ở “Sự kiện” này không? Nếu có thì tại sao không thấy xuất hiện trong
tài liệu sớm “1719” và sau đó là tài liệu “1776”?
Ø
Liệu
nhân vật “Trần Thượng Xuyên” có phải do công trạng về sau phát triển nổi tiếng ở
Nam Bộ về quân sự, chính trị và cả về xây dựng và phát triển kinh tế; nên khi
viết “Gia Định thành thông chí” quan Trịnh Hoài Đức (người sống sau “Sự kiện” hơn 100 năm) đã “ hợp nhất các ký ức hồi cố”, “tái cấu trúc lịch sử” ghép vào chung “Sự
kiện” này và nâng tầm cho nhân vật
“Trần Thượng Xuyên” lên là “Tổng binh các xứ Cao, Lôi, Liêm” ngang tầm “Tổng
binh thủy lục trấn thủ các xứ ở Long Môn thuộc Quảng Đông nước Đại Minh là
Dương Ngạn Địch” ?
2- TRUY
VẾT TRONG THƯ TỊCH:
1.
Theo
Đại Nam thực lục tiền biên (khởi
soạn năm 1841 in năm 1889)
Xem
trong “Đại Nam thực lục tiền biên” đoạn thu phục Hoàng Tiến thấy có đoạn chép: Kỷ
Tỵ, năm thứ 2 [1689], mùa xuân tháng giêng… Vạn Long vào lũy, bắt được vợ con
Tiến đều chém cả, chiêu tập dư chúng quân Long Môn, sai bộ tướng của
Dương Ngạn Địch là Trần Thượng Xuyên [楊彥迪部將陳上川] quản lãnh để làm tiên phong [sic] [31].
Xét:
o
Bộ tướng (部將): Là
tướng lĩnh dưới quyền trực tiếp của một vị
chủ tướng. Vậy trong ngữ cảnh này Trần Thượng Xuyên đã từng là "Tướng
lĩnh thuộc cấp" hoặc "Tướng dưới quyền trực tiếp" của
Dương Ngạn Địch.
2. Theo Cao Miên sử [32](1914), của Adhémard Leclère dẫn niên đại của Cao Miên:
Nguyên văn:
C’est vers cette époque, en 1680 probablement, qu’un général chinois nommé Duong
Ngan Dich, partisan des Mings, vaincu par l’armée de Khang Hi, le
nouvel empereur de la dynastie des Thanh, aborda en Annam avec ce qui
lui restait d’une armée embarquée sur 200 jonques, que la tempête avait en
partie détruites.
N’ayant plus avec lui que 50 jonques
et 3 000 hommes, il se rendit à Tourane avec son armée, fit sa
soumission à l’Annam et demanda des terres.
Le roi d’Annam, qui ne voulait pas
avoir ces 3 000 étrangers près de lui, non cependant sans avoir prévenu le roi Chey Chettha, les envoya au Cambodge, dans les
rovinces de Baria
et de Dâung Nay, en partie déjà envahies et occupées par des immigrés
annamites qui prétendaient relever de lui et se considéraient comme en pays
conquis.
Le général chinois Duong Ngan Dich,
mécontent du pays qui lui avait été concédé, choisit Mytho et s’y
installa avec la moitié de ses gens ; son lieutenant Trân conserva son
lot et demeura à Baria [33].
Tạm dịch:
"Vào khoảng
thời gian này, có lẽ là năm 1680, một vị
Tổng binh người Hoa tên là Dương Ngạn Địch, một di thần trung thành với nhà
Minh, sau khi bại trận trước quân đội của Khang Hy, vị tân hoàng đế của đại triều
nhà Thanh, đã cập bến An Nam cùng số tàn quân trên 200 chiến thuyền vốn
đã bị bão tố phá hủy một phần. Chỉ còn lại 50 thuyền và 3.000
người, ông cùng đạo quân của mình tiến vào cửa biển Đà Nẵng, xin quy thuận An
Nam và thỉnh cầu được ban cấp đất đai. Chúa Nguyễn, vì không muốn lưu giữ 3.000
người ngoại tộc này ở gần kinh sở, tuy nhiên vẫn không quên thông báo cho vua
Chey Chettha [IV], đã gửi họ đến Cao Miên, thuộc các địa hạt Bà Rịa và Đồng
Nai, nơi vốn đã có một phần lưu dân An Nam đến xâm lấn và chiếm giữ, những người
này tự nhận thuộc quyền cai quản của Chúa Nguyễn và coi đây là vùng đất đã
chinh phục được.
Tổng binh
người Hoa Dương Ngạn Địch, do không hài lòng với vùng đất được khâm ban, đã lựa
chọn Mỹ Tho và định cư tại đó cùng một nửa số quân dân của mình; phó
tướng của ông là Trân vẫn giữ phần đất đã được phân định và lưu lại vùng Bà
Rịa.
Xét:
o
Son lieutenant Trân (Phó tướng Trần): Ở đây
văn bản gốc chỉ ghi "Trân", nhưng về nghiên cứu thư tịch, ngữ cảnh lịch
sử, chúng ta có thể hiểu đó là Trần Thượng Xuyên (Trần Thắng Tài).
o
Ban đầu đoàn được chỉ định vào vùng Baria
et de Dâung Nay là hợp lý vì theo các thư tịch lúc bấy giờ đã có lưu dân
người Việt định cư sinh sống, và các vũng, vịnh ở đây phù hợp cho các chiến
thuyền neo đậu, vùng Bà Rịa này cũng là nơi đặt Dinh Trấn Biên thời kỳ đầu
[1698] [34].
v LỜI BÀN:
Sự trùng khớp
về các con số (200 chiến thuyền ban đầu, trận bão, và kết quả còn lại 50 thuyền/3.000
quân) giữa đoạn văn của Adhémard Leclère và của Nguyễn Khoa Chiêm không thể là
ngẫu nhiên.
2.
Sự tương đồng kỳ lạ giữa hai văn bản
“Nam Triều công nghiệp diễn chí” với Cao Miên sử của Adhémard Leclère.
Trong khi Gia
Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (biên soạn khoảng năm 1820) và Đại
Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện (Quốc sử quán triều Nguyễn) chỉ chép con
số "tĩnh" khi đoàn người đã đến cửa biển Đà Nẵng (50 thuyền, 3.000
quân), thì "Nam triều công nghiệp diễn chí" của Nguyễn Khoa
Chiêm (hoàn thành năm 1719) lại chép về các "biến cố" trước đó của
đoàn Dương Ngạn Địch trước khi đến quy hàng Chúa Nguyễn.
·
Chi tiết trận bão: Leclère
viết: "que la tempête avait en partie détruites" (bị bão tố
phá hủy một phần). Nam triều công nghiệp diễn chí chép rất kỹ: "gặp
hôm mây mù dày đặc... trời gió to bão lớn nổi lên... nhiều thuyền bị đắm".
·
Số liệu: Cả hai đều nêu
rõ con số 200 thuyền ban đầu bị rút gọn xuống còn hơn 50 thuyền.
2. Khả năng Adhémard Leclère tiếp cận nguồn tài liệu Việt Nam
Giả thuyết Leclère đã sử dụng hoặc tham khảo một bản dịch/tóm tắt của Nam
triều công nghiệp diễn chí (hoặc một tài liệu phái sinh từ nó) là rất lớn
vì:
·
Thời điểm soạn thảo: Nguyễn
Khoa Chiêm viết tác phẩm này vào đầu thế kỷ 18, gần với thời điểm sự kiện xảy
ra (1679) hơn Trịnh Hoài Đức rất nhiều. Đây là nguồn sử liệu "tại chỗ"
của Đàng Trong.
·
Các học giả Pháp tại Viện Viễn Đông Bác
cổ (EFEO): Vào thời điểm Leclère viết Histoire du Cambodge
(1914), các học giả Pháp đã dịch và nghiên cứu rất nhiều văn bản Hán-Nôm của Việt
Nam.
·
Góc nhìn về Campuchia: Leclère
nghiên cứu lịch sử Campuchia, nhưng khi viết về giai đoạn thế kỷ XVII, ông bắt
buộc phải tham chiếu các nguồn từ An Nam để giải thích sự hiện diện của người
Hoa và người Việt tại vùng đất mà lúc đó vương quốc Khmer đang suy yếu.
Kết luận về nguồn tài liệu
Rất có khả năng Adhémard
Leclère đã sử dụng một nguồn tài liệu tổng hợp từ các bản Biên niên sử Cao
Miên và các bản dịch Sử liệu Việt Nam mà người Pháp có được tại thời
điểm đó.
Việc Leclère đưa chi tiết "trận
bão" vào (vốn không có trong các bộ chính sử khô khan như Thực lục
hay Thông chí) chứng tỏ ông đã tiếp cận được mạch văn bản mang tính "Diễn
chí" hoặc "Dã sử" - nơi các chi tiết về hoàn cảnh,
tâm lý và biến cố thiên nhiên được ghi chép sống động hơn.
C- TẠM KẾT:
Theo các nội dung được trình bài trên, cùng dựa theo nội dung “bài vị” ở
chùa Thanh Lương, Biên Hòa, Đồng Nai, nội dung trong “Trần thị Tộc Phả” ở thôn
Điền Đầu, Trạm Giang, Quảng Đông, Trung Quốc [chi tiết trong khảo tả “Lần theo
thư tịch tìm hiểu về gia tộc Trần Thượng Xuyên”] [35].
Chúng tôi tạm nhận định:
1.
Tướng
Trần Thượng Xuyên trong sự kiện “Kỷ Mùi 1679” & “Mậu Thìn 1688 – Kỷ Tỵ
1689”, có thể là 1 vị tướng lưu vong trẻ, đã có mặt trong đoàn, nhưng không
nổi bật, có thể chỉ là bộ tướng (迪部), hoặc phó tướng (Son lieutenant) của Long Môn tướng quân Dương Ngạn Địch.
2.
Khi
Dương Ngạn Địch bị phó tướng Hoàng Tiến ám sát (1688), triều đình dẹp loạn
Hoàng Tiến. Sau đó tướng Trần Thượng Xuyên được Chúa Nguyễn giao quản lãnh đội
quân Long Môn, từ đó Ông chính thức trở thành thủ lĩnh tối cao của toàn
bộ cộng đồng Minh Hương tại Đàng Trong, thống nhất quyền chỉ huy quân sự để hỗ
trợ Chúa Nguyễn trong các chiến dịch sau này; bình định vỗ yên bờ cõi, xây dựng
và phát triển đóng vai trò quyết
định trong việc sơ phác, định hình diện mạo lịch sử- kinh tế - xã hội vùng Đông
Nam Bộ từ cuối thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 18 ./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Nguồn sử liệu sơ cấp và địa chí
1.
Nguyễn Khoa Chiêm (2016), Nam triều công nghiệp diễn
chí, (tái bản). Ngô Đức Thọ- Nguyễn Thúy Nga dịch, chú và giới thiệu.
Nxb Khoa Học Xã Hội.
2. Quốc sử
quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam liệt truyện, tập 1 & 2. Đỗ Mộng
Khương dịch, Hoa Bằng hiệu đính. Tái bản lần thứ ba, Nxb Thuận Hóa.
3. Quốc sử
quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 1. Nxb Giáo dục.
4. Lê Quý
Đôn (2007), Phủ biên tạp lục, phần 1. Bản dịch, hiệu đính và chú thích của
Nguyễn Khắc Thuần. Nxb Giáo Dục.
5. Trịnh
Hoài Đức (2005), Gia Định thành thông chí, Lý Việt Dũng dịch và chú giải;
Huỳnh Văn Tới hiệu đính và giới thiệu, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, Đồng Nai.
II. Tài liệu tiếng nước ngoài (Sử liệu quốc tế)
1. Leclère, Adhémard (1914), Histoire du Cambodge: depuis le 1er siècle de notre ère, d'après les inscriptions lapidaires, les annales cambodgiennes et les sources européennes, Librairie Paul Geuthner, Paris.
Trấn
Biên, Bính Ngọ- Trọng Xuân
Nguyên-
Phong Lê Ngọc Quốc
[1] Biên Hòa, Đồng Nai. email: lengocquoc.hungle@gmail.com - phone: +84 903906956.
[2] Quốc sử quán triều Nguyễn (2014), Đại
Nam liệt truyện. Đỗ Mộng Khương dịch, Hoa Bằng hiệu đính. Tái bản lần thứ
ba, tập 1 & 2, Nxb Thuận Hóa- Huế.
[3] Quốc sử quán triều Nguyễn (2014), Đại
Nam liệt truyện, tập 1 & 2. Sđd tr.144, 145,146.
[4] Khởi soạn từ năm 1821 (năm
Minh Mạng thứ 2) và hoàn thành, khắc in vào năm 1844.
[5] Quốc sử quan triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 1 , Viện Sử học dịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội. tr 91.
[6] Quốc sử quan triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 1, Sđd. tr 98.
[7] Quốc sử quan triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 1, Sđd. tr 99.
[8] Quốc sử quan triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 1, Sđd. tr 100.
[9] Sách được khởi thảo từ cuối thời
Gia Long chỉnh sửa và hoàn thành, dâng sách năm1820.
[10] Trịnh
Hoài Đức (2005), Gia Định thành thông chí, Lý Việt Dũng dịch và chú giải;
Huỳnh Văn Tới hiệu đính và giới thiệu, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, Đồng Nai. tr.
110.
[11] Trịnh Hoài Đức (2005), Gia Định thành thông chí, Sđd, tr. 110- 111.
[12] Trịnh Hoài Đức (2005), Gia Định
thành thông chí, Sđd, tr. 241.
[13] Sách Nam Việt chí còn có tên là “Việt
Nam Khai Quốc chí truyện” xuất bản năm 1719 của Bảng Trung Hầu Nguyễn Khoa
Chiêm (1659-1736).
[14] Trịnh Hoài Đức (2005), Gia Định thành
thông chí, Sđd. tr. 109.
[15] Trịnh Hoài Đức (2005), Gia Định
thành thông chí, Sđd, tr. 110.
[16] Trịnh Hoài Đức (2005), Gia Định
thành thông chí, Sđd, tr. 111- 162.
[17] Trịnh Hoài Đức (2005), Gia Định
thành thông chí, Sđd, tr. 245.
[18] Trịnh Hoài Đức (2005), Gia Định
thành thông chí, Sđd, tr. 255.
[19] Lê Quý Đôn (2007), Phủ Biên Tạp
Lục, phần 1. Bản dịch và hiệu đính và chú thích của Nguyễn Khắc Thuần.
Nxb Giáo Dục.
[20] Lê Quý Đôn (2007), Phủ Biên Tạp
Lục. Sđd trg 73 &74.
[21] Lê Quý Đôn (2007), Phủ Biên Tạp
Lục. Sđd trg 75 &76.
[22] Nguyễn Khoa Chiêm (2016), Nam
Triều công nghiệp diễn chí (tái bản). Ngô Đức Thọ- Nguyễn Thúy Nga dịch,
chú và giới thiệu. Nxb Khoa Học Xã Hội.
[23] Nguyễn Khoa Chiêm (2016), Nam Triều
công nghiệp diễn chí (tái bản). Sđd tr. 529 .
[24] Nguyễn Khoa Chiêm (2016), Nam
Triều công nghiệp diễn chí (tái bản). Sđd tr. 530 .
[25] Nguyễn Khoa Chiêm (2016), Nam
Triều công nghiệp diễn chí (tái bản). Sđd tr. 532 .
[26] Nguyễn Khoa Chiêm (2016), Nam
Triều công nghiệp diễn chí (tái bản). Sđd tr. 533 .
[27] Nguyễn Khoa Chiêm (2016), Nam Triều
công nghiệp diễn chí (tái bản). Sđd tr 551 .
[28] Nguyễn Khoa Chiêm (2016), Nam
Triều công nghiệp diễn chí (tái bản). Sđd tr 553.
[29] Nguyễn Khoa Chiêm (2016), Nam
Triều công nghiệp diễn chí (tái bản). Sđd tr 556.
[30] Nguyễn Khoa Chiêm (2016), Nam
Triều công nghiệp diễn chí (tái bản). Sđd tr 557.
[31] Quốc sử quan triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Sđd. tr 100.
[32] Cao Miên sử (Histoire du Cambodge depuis
le 1er siècle de notre ère, d'après les ...) là một trong những công trình
nghiên cứu lịch sử Campuchia quan trọng nhất của học giả người Pháp Adhémard
Leclère (1853–1917), xuất bản lần đầu vào năm 1914.
[33] Cao Miên sử (Histoire du Cambodge) Sđd trg
356.
[34] Bà rịa có núi Trấn Biên, hiện nay các địa danh
: núi Dinh, sông Dinh, chợ Dinh vẫn còn tồn tại, tại đình thần Long Hương, hiện
vẫn còn thờ bài vị của Phó tướng dinh Trấn Biên Nguyễn Cửu Phú.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét