Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2016

BIÊN HÒA- Nguyễn Hữu Cảnh & con đường đi cùng năm tháng!

Biên Hòa ngày ấy là một trong những vùng đất được định danh
hành chính đầu tiên của lưu dân Việt xâm cư vùng nam bộ. Năm 1679 Đô Đốc Trần Thượng Xuyên (người Quảng Đông) đầu hàng chúa Nguyễn, sau đó được lệnh mang quân bản bộ vào khai thác đất Lộc Dã (Đồng Nai), đóng quân tại Bàn- Lân (Biên Hòa). Khai khẩn đất bỏ không, tạo dựng và phát triển Đại Phố tại Cù Châu ( cù lao Phố).
Mùa xuân năm 1698 vâng lệnh chúa Nguyễn, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh (Kính) đem quân vào vùng đất này; lấy đất Đông Phố lập nên phủ Gia Định, chia làm hai huyện: 
Vùng đất Lộc Dã (Đồng Nai) làm huyện Phước Long; vùng đất Sài Gòn làm huyện Tân Bình.
Doanh Trấn Biên cai quản huyện Phước Long ngày đó, được dựng tại thôn Phước Lư cạnh ngã ba sông Đồng Nai và Rạch Cát (nay thuộc khu vực nằm trong 02 phường Quyết Thắng- Thống Nhất, thành phố Biên Hòa).
Miền đất này có quá nhiều sông rạch, tất nhiên khi di chuyển trên thuyền bè sẽ thuận lợi hơn về tốc độ, thời gian, sức lực…Các xóm làng được thành lập, ban đầu đa số đều nằm ven sông nước : Nhất cận thị- nhị cận giang!
Và khi cuộc sống dần ổn định thì ngoài đường thủy, các con đường mòn liên kết giữa các địa phương, làng xóm được mở rộng phát triển. Tại dinh Trấn Biên ngày ấy có 02 con đường bộ quan trọng nhất được hình thành là con đường Thiên Lý Bắc Nam (còn được gọi là Quan Lộ- nay thuộc các đường 30 tháng 4, Phạm Văn Thuận, Bùi Văn Hòa). Và con đường dọc theo sông Đồng Nai nối liền dinh Trấn Biên- Thành cổ Tân Lân (nay là di tích Thành Kèn)- Văn miếu Trấn Biên- để đi lên miền ngược: chợ bến Cá Tân Triều, thủ Dõ Sa, Tân Tịch…hoặc rẽ trái xuống bến đò Văn Thánh (nay thuộc khu vực chùa Long Ẩn- chùa Phổ Hiền phường Bửu Long) sang sông qua Tân Hạnh, Tân Ba đi Thủ Dầu Một, Băng Bột các xứ người Man…
Con đường dọc bờ sông ấy ngày nay gồm 2 con đường Cách Mạng Tháng 8 và Huỳnh văn Nghệ.
Nó được hình thành có lẽ trễ nhất là vào năm 1715, thời điểm mà Trấn thủ dinh Trấn Biên là Nguyễn Phan Long cho xây dựng Văn Miếu ở địa phận thôn Tân Lại. Hàng năm tại đây triều đình có 02 lễ tế lớn vào mùa xuân và mùa thu, quan lớn địa phương đứng chủ tế (khi còn ở Gia Định- Đồng Nai, chúa Nguyễn Ánh thường thân làm chủ lễ, về sau mới sai các quan tế thay). Từ thành Biên Hòa lên hướng Văn Miếu theo con đường này còn có:
1- Miếu Thành Hoàng nơi thờ Thần bảo hộ cho thành Biên Hòa (nay là miếu thổ Thần hay miếu ông Hổ phường Hòa Bình)
2- Đàn Xã Tắc- cúng tế thần Đất và thần Nông (nay thuộc địa phận hai phường Hòa Bình- Quang Vinh, gần hẻm lẩu tôm Năm Ri).
3- Miếu Hội Đồng nơi thờ linh thần bổn cảnh và 68 vị văn thần võ tướng có công lao thời khai quốc (nay là đình Bình Thiền phường Quang Vinh).
Các nơi này cũng đáo lệ cúng lớn 02 kỳ mùa xuân và mùa thu. Tất nhiên ngoài đường thủy phát triển từ lâu, con đường bộ này cũng phát triển, nới rộng để phục vụ giao thông và thuận tiện cho đoàn cúng tế của triều đình: Tượng binh, kỵ binh, bộ binh, lễ binh cùng các đoàn rước của quan lại, dân chúng tham gia.
Trên cung đường này, đoạn nối từ đường 30 tháng tư, công trường sông Phố- đến ngã tư cầu mới, trước khi Pháp chiếm Biên Hòa, chưa có tài liệu tên cụ thể của cung đường này là gì, có lẽ gọi là quan lộc theo cái gọi chung thời bấy giờ. Sau khi chiếm Biên Hòa vào cuối năm 1861; một thời gian sau khi bình định, chánh quyền Pháp cho quy hoạch, sửa chữa cải tạo mở thêm nhiều con đường nội ô Biên Hòa; cung đoạn này dài gần 1300m được đặt tên là: Palasne de Champeaux.
1- Đường Palasne de Champeaux :
Louis Eugène Palasne de Champeaux (1840- 1889) nguyên là đại diện cho nước Pháp tại triều đình Huế từ 6 /10/ 1880 – 17/ 8/1881.
Ông có mặt trong phái đoàn Pháp ký hòa ước Quý Mùi hay còn có tên gọi là hòa ước Harmand, hòa ước này được ký kết vào ngày 25 tháng 8 năm 1883 tại Huế giữa đại diện của Pháp là Francois Jules Harmand- Tổng ủy Pháp đại diện ngoại giao cho nước Cộng hòa Pháp và đại điện của Đại Nam là Trần Đình Túc- Hiệp biện đại học sĩ (chánh sứ), Nguyễn Trong Hợp- Thượng thư bộ lại (phó sứ). Hoà ước có tất cả 27 điều khoản với nội dung chính là xác lập quyền bảo hộ lâu dài của Pháp trên toàn bộ Việt Nam. Hiệp ước này chính thức đánh dấu thời kỳ 1883-1945, toàn bộ Việt Nam trở thành thuộc địa của thực dân pháp.
Sau là Thông sứ tại Campuchia từ 04/11/1887 đến 10/03/1889 sau đó về Pháp và mất vào tháng 10/1889.
Ông xuất thân từ hải quân, phục vụ quân đội hơn 10 năm; ngày 01/04/1873 Trung úy Champeaux được bổ nhiệm là Thanh tra viên bản xứ Nội vụ tại Biên Hòa.
2- Đường Nguyễn Hữu Cảnh :
Sau năm 1954 chánh quyền VNCH đổi sang thành đường Nguyễn Hửu Cảnh.
Nguyễn Hửu Cảnh (Kính) (1650- 1700) sanh ra trong một danh gia vọng tộc; Ông là người đem quân đánh bắt vua Chiêm Thành là Bà Tranh (1692) lấy đất của Bà Tranh đặt làm trấn Thuận Thành (nay là vùng nam trung bộ). Mùa xuân năm 1698 vâng lệnh chúa Nguyễn, Thống suất nguyễn Hữu Cảnh đem quân vào vùng đất này, lấy đất Đông Phố lập nên phủ Gia Định, chia làm hai huyện; vùng Lộc Dã (Đồng Nai) làm huyện Phước Long; vùng Sài Gòn làm huyện Tân Bình. Năm 1700 một lần nữa, Ông lại vâng lệnh chúa Nguyễn, đem quân đánh Chân Lạp, chiến thắng Ông dẫn quân trên đường về ngang Rạch Gầm- Mỹ Tho thì mất.
3- Đường Cách Mạng Tháng Tám.
Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975 cung đường này lại một lần đổi tên, ghép chung đường Hàm Nghi, đặt tên là đường CMT 8 cho đến ngày nay.
Viết tại Biên Hòa nhân ngày giỗ thứ 24 của cụ Lương Văn Lựu.
Tài liệu tham khảo:
1-Biên Hòa Lược Sử Toàn Biên - Lương Văn Lựu.
2-Đại nam nhất thống chí- tập 5.
3-Đại nam liệt truyện.
4-Đại nam hội điển sự lệ.
5-Hoàng việt thống nhất dư địa chí.
6-https://vi.wikipedia.org/..
Trước năm 1975

 Đường Champeaux 1930
Đền thờ tại cù lao Phố
 Đường Champeaux 1926 
Tranh vẽ Hòa Ước Quý Mùi 1883, tính từ trái sang: Đinh Trần Túc, Palasne de Champeaux, Jules Harmand Đức Cha Gaspar, Nguyễn Trọng Hiệp, ông Masse
Văn Phòng Luật Sư- Bạch Văn Suy (!)
Số 67 Nguyễn Hữu Cảnh Biên Hòa-
Bản đồ năm 1968
bản đồ năm 1862 ~1866

Trước năm 1975
Đường Nguyễn Hữu Cảnh- xưa và nay !








Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2016

THIÊN LÝ CÙ BIÊN HÒA- GIA ĐỊNH (P1)

Thiên lý cù trong trận đánh Thành Biên Hòa của liên quân Pháp- Tây Ban Nha cuối năm 1861.
Địa điểm Bến Bình Đồng xưa

Ngày 19/08/1861 Hoàng Đế Pháp Napoléon III chỉ định phó đô đốc Bonard sang Đông Dương…Ngày 27/11/1861 Bonard đến sài Gòn, ngày 30/11/1861 Tổng tư lệnh Cochinchine- Charner chuyển giao quyền chỉ huy cho ông. Vừa nhận chức ông tuyên bố:
“ Chúng ta sẽ tấn công Biên Hòa, và nếu cần, chúng ta sẽ đánh chiếm Huế “.
Sáng sớm 14/12/1861 liên quân Pháp- Tây Ban Nha đã tiến đánh Biên Hòa từ Gia Định bằng 4 cánh quân, cánh thứ 2, đường bộ dùng đường thiên lý nối Gia Định- Biên Hòa, xuất phát bến đò Bình Đồng (quán Đồng Cháy- nay thuộc phường Trường Thọ- Thủ Đức) do đại tá Domenech- Diego chỉ huy, gồm 100 lính Tây Ban Nha, một đại đội thủy quân lục chiến, tiến đánh đồn Mỹ Hòa.
Ngày 16 liên quân chiếm đồn Mỹ Hòa, rồi theo thiên lý cù qua Châu Thới, vượt cầu xã Tân Bản (tục gọi là cầu Quan), sáng sớm ngày 17/12/1861 đến chợ thôn Bình Tiên (tục gọi là chợ Lò Giấy, thời Tây Sơn có đóng đồn ở đây nên còn gọi là chợ Đồn), dàn quân bên bờ phải sông Đồng Nai, hợp cùng 3 cánh quân khác, tấn công Thành Biên Hòa...chiều tối hôm ấy, Thành Biên Hòa thất thủ !
Bản đồ trận đánh Biên Hòa năm 1861


Đường thiên lý Gia Định- Biên Hòa


Bến Đò Ngựa

Bến Bình Đồng năm xưa (p. Trường Thọ- Thủ Đức)
Bến Đò Ngựa ngày nay 




Thứ Ba, 30 tháng 8, 2016

HỘI ĐỒNG MIẾU THÀNH CỔ BIÊN HÒA



Miếu Hội Đồng



Bên trong một ngôi đình tên Đình Trung tại hội chợ Mác- Xây năm 1922 ,có thể là miếu Hội Đồng Biên Hòa (?)

Miếu hội đồng là thiết chế thờ tự quan trọng ở cấp tỉnh, đứng sau văn miếu do triều đình quản lý. Các vị thần được thờ tại miếu hội đồng được triều đình chuẩn cấp bằng sắc phong. Hàng năm, các quan đầu tỉnh thay mặt triều đình đến tế, theo điển lễ.
Theo thiết chế, điển lệ chung của triều đình, nơi đây thờ :
Thượng, trung, hạ đẳng dương thần, âm thần, nhiên thần, nhân thần. Thổ địa long thần, Hà bá thủy quan; Tiên sư thổ công, Táo quân trụ trạch….
Đây là hệ thống thần linh ở địa phương, gồm có những biểu tượng văn hóa, những biểu tượng khí thiêng sông núi. Nếu là nhân thần thì cũng là những danh nhân lức còn sống có công với dân tộc, có công với địa phương.
Miếu hội đồng Trấn Biên được xây dựng sớm ở nam bộ (1801) chỉ sau Gia Định (1795). Đây là thiết chế tín ngưỡng văn hóa quan trọng của triều đình, đến trước thời điểm Pháp xâm lược nước ta; từ kinh sư, phủ thừa thiên đến 2 đạo Hà Tỉnh, Phú Yên và 26 tỉnh từ bắc chí nam đều được cho xây dựng miếu hội đồng, riêng chỉ có tỉnh An Giang là chưa dựng.
Năm 1803 vua Gia Long chuẩn y lời đề nghị cho lập một miếu hội đồng ở phía tây bắc các lị sở dinh trấn trong toàn quốc, miếu nhìn về hướng nam, chính đường tiền đường đều 1 gian 2 chái.
Trong ghi chép về Dinh Trấn Biên (quyển 7- Hoàng Việt thống nhất dư địa chí- 1806) Thượng thư bộ hộ của vua Gia Long là Lê Quang Định, có đoạn ghi:
...Từ trước trấn thành (Thành Biên Hòa) theo hướng tây (bên phải Thành- hướng về núi Bửu Long)...100 tầm, 2 bên đường có dân cư thưa thớt, đến miếu Hội Đồng, miếu nằm bên phía bắc đường đi, năm Ất Sửu (1805) phụng mệnh xây điện lợp ngói rất nguy nga, lệ cắt dân thôn Phước Lư lo việc phục dịch ở miếu này, hằng năm ban lễ tế hai kỳ xuân thu...
Trong địa bạ Minh Mạng năm 1836 có chép:
Bình Thành thôn, ở xứ Thành Tự (Chùa Thành)
. Đông giáp phường Bình Trúc (Bình Trước), thôn Tân Lân, có lập cột gỗ làm giới
. Tây giáp địa phận thôn Tân Lại, có lập cột gỗ làm giới
. Nam giáp địa phận thôn Tân Lân, có lập cột gỗ làm giới
. Bắc giáp thôn Bình Điện (Phước Vinh Trung), có lập cột gỗ làm giới
-Thực canh ruộng đất 32.7.2.9:
. Điền tô điền 15.2.8.2 (29 sở chủ, BTĐC 0.1.1.7-0.1.0.0 và sư tăng chùa Bửu Sơn đồng canh 0.7.0.0).
. Đất trồng dâu, mía 17.4.9.7 (71 sở)
- Đất để ở 1.0.0.0
- Mộ địa 1 khoảnh.
- Đất gò đồi hoang một khoảnh.
- Đất lập Miếu Hội Đồng 1 sở.
- Đất lập Đàn Xã Tắc 1 sở.



Bản đồ Biên Hòa năm 1863 (chú thích các địa điểm năm 2016)
Bản đồ ghi chú vị trí các di tích xưa trực thuộc quản lý củaThành Biên Hòa
Số 1: Thành Biên Hòa- Nhà Tiên Tàm ( nuôi tằm)
Số 2: Văn Miếu
Số 3: Miếu Hội Đồng
Số 4: Đền Trung Tiết (Trận Vong Hướng Sĩ)
Số 5: Miếu Thành Hoàng
Số 6: Đàn Xã Tắc
Số 7: Tịch Điền
Số 8: Xưởng Thuyền Công
Số 9: Chuồng Voi.

Năm 1825 vua Minh Mạng lại chuẩn y lời đề nghị của bộ công về quy chuẩn xây dựng miếu hội đồng cho cả nước : Chính đường, tiền đường đều 3 gian, 2 chái, mái thềm đằng trước hợp làm một tòa. Kích thước ngang, dọc, chiều cao cột chính, cột phụ…nhất tề đều theo quy chuẩn của triều đình.
Miếu hội đồng trấn biên được xây dựng năm 1801(thời kỳ nhà Nguyễn trung hưng, Nguyễn Ánh chưa lên ngôi), thờ linh thần bổn cảnh (các vị thần địa phương) và 68 quan văn, võ có công lao từ thời mở nước. Hàng năm theo lệ ban của triều đình, tế lớn hai lần vào tháng trọng xuân và tháng trọng thu (tháng thứ 2 của mùa xuân và tháng thứ 2 của mùa thu). Trước kia nằm ở phía tây tỉnh thành, thuộc địa phận thôn Bình Thành (Bình Thiền), đến năm 1809 dời về địa điểm hiện tại, năm 1849 cho tu sửa lại (Lương Văn Lựu)
Sau biến cố tháng 12 năm 1861, Thành Biên Hòa rơi vào tay thực dân Pháp. Ngày 5 tháng 6 năm 1862, một hiệp ước được ký kết giữa Triều Đình Huế và đế quốc Pháp ( Hiệp ước nhâm tuất), theo đó triều đình nhượng 3 tỉnh miền đông nam kỳ là Gia Định, Biên Hòa và Định Tường cho Pháp. Kể từ đấy, các thiết chế cơ sở văn hóa tín ngưỡng tại Biên Hòa như: Văn miếu, miếu hội đồng, đàn xã tắc, tiên nông, đền trung tiết…không còn sự quản lý, điều động, cấp phát nhân lực, tài lực của triều đình nữa!
Miếu nằm trên đồi cao (nay là khu đồi có nhà thi đấu- ký túc xá trường mỹ thuật trang trí Đồng Nai), 1931 chưa rõ lý do vì sao, lại dời về đầm trũng thấp, cách đấy chừng hơn trăm mét, nhường chỗ cho Phước Kiến Nghĩa Từ (?)
Một thời gian sau, không rõ vào khi nào, miếu hội đồng Biên Hòa đổi thành miếu Bình Thiềng (Bình Thành), dân gian gọi là đình Trung; thuộc sự quản lý của làng Bình Thành (nay thuộc khu phố 4, phường Quang Vinh).
Ngày nay, mọi dấu vết thờ tự thời miếu hội đồng đã xóa sạch. Đối tượng thờ chính tại đình Bình Thiền là Đương cảnh thành hoàng đại vương (có sắc phong của vua Minh Mạng (!). Đình này có sự khác biệt với đa số đình khác là 2 bên chánh điện không thờ tả ban, hữu ban, mà ta thấy là bàn thờ Thần Nông và Thánh Mẫu nương nương (?). Hàng năm còn giữ lệ cúng vào các ngày 15, 16 và 17 tháng 10 âm lịch (vẫn lệ cũ thời còn là miếu Hội Đồng)
Đủ các lệ: Thỉnh sắc chu du, tụng kinh cầu an, túc yết, xây chầu đại bộ, cúng tiên sư hậu bối, lễ tỉnh sanh, đàn cả. Qua ngày 17 lễ tôn vương cuối cùng là lễ tất. Hàng năm đến lệ cúng, dân trong làng đến viếng rất đông đảo, họ đến để cầu mong an khang thịnh vượng cho gia đình, làng xóm; đình có diễn hát các tuồng cổ phục vụ miễn phí cho bá tánh trong suốt 3 ngày lễ hội.


Đình Bình Thiền còn giữ được cấu tạo như điển lệ xưa của miếu hội đồng Biên Hòa






Hàng năm đến lệ cúng 15, 16 và 17 tháng 10, dân làng nô nức đến chiêm bái, và xem tuồng hát.


Miếu Hội Đồng Vĩnh Long, nay là miếu Công Thần hiện đang lưu giữ 85 sắc thần. 

Ngày nay miếu hội đồng Vĩnh Long còn lưu 2 sắc thần của Nguyễn Hữu Cảnh, miếu hội đồng Gia Định còn 1 sắc của Ngài lưu tại đình Châu Phú; như thế miếu hội đồng Biên Hòa thờ thờ linh thần bổn cảnh cùng 68 vị văn thần võ tướng thời khai quốc xưa, ắt có nhiều sắc thần, trong đó tất nhiên có sắc của Nguyễn Hữu Cảnh và Trần Thượng Xuyên, hai vị có công đầu trong việc mở cõi phương nam và đã được nhà Nguyễn phong thượng đẳng thần.

(Công việc truy tìm những sắc thần đang còn lưu lạc ấy thật khó khăn, nhưng là việc đáng làm trong công việc gìn giữ bảo tồn văn hóa của tiền nhân !)

Trích: Thành Biên Hòa và các cơ sở thiết chế văn hóa tính ngưỡng- Nguyên Phong Lê Ngọc Quốc (bản thảo)



TÀI LIỆU THAM KHẢO:



(1) Gia Định thành thông chí- Trịnh Hoài Đức- Hậu Học Song Hào Lý Việt Dũng dịch và chú thích- NXB Đồng Nai 2006.

(2) Hoàng Việt thống nhất dư địa chí- Lê Quang Định

(3) Đại Nam Thực Lục- Quốc sử quán

(4) Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn Biên Hòa- Nguyễn Đình Đầu.

(5) Đại nam Quốc Lược Sử- Alfred Schreinr, Sài Gòn 1906

(6) Khâm định đại nam hội điển sự lệ-Nội các triều Nguyễn.

(7) Đại Nam nhất thống chí- Nội các triều Nguyễn.

(8) Biên Hòa sử lược toàn biên- Lương Văn Lựu.

(9) 85 sắc phong ở Miếu công thần tại Vĩnh Long.Thư viện khoa học tổng hợp Tp HCM 2013.

(10) 290 năm (1715- 2005) Văn Miếu Trấn Biên- Thành Ủy, UBND Thành phố Biên Hòa

(11) Đại Nam Thực Lục, Quốc Sử Quán Triều Nguyễn

(12) Minh Mệnh Chính Yếu, Quốc Sử Quán Triều Nguyễn.

(13) http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k62202176.item

(14) Việt Nam phong tục – Phan Kế Bính.

(15) Việt điện u linh tập- Lý Kế Xương.

(16) Nghi và văn cúng chữ Hán ở thành phố Biên Hòa, Bảo Tàng Đồng Nai, nhà xuất bản Đồng Nai, 2013- Hậu học song hào Lý Việt Dũng dịch và chú thích-

(17) Cơ sở tín ngưỡng và truyền thống ở Biên Hòa, Phan Đình Dũng

(18) Người Pháp và người Annam, bạn hay thù- Philipe Devillers- Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.

(19) Hồ sơ khoa học di tích lịch sử- kiến trúc nghệ thuật thành phố Biên Hòa- Ban di tích thành phố Biên Hòa.

(20) Lịch sử cuộc viễn chinh nam kỳ năm 1861-Le1opold Pallu, Hoàng Phong dịch và bình- Nhà xuất bản Phương Đông 2008

(21) Tuần báo Le Monde Illustré của Pháp, số 254 năm thứ 6, ra ngày 22/02/1862.

(22) Tuần báo L’Illustation Journal Universel của Pháp, ra ngày 01/03/1862.

(23) Lý lịch sự vụ, nguyên tác Nguyễn Đức Xuyên, dịch và khảo chú: Trần Đại Vinh- Tạp chí nghiên cứu và phát triển số 6(123) và số 7(124) năm 2015

(24) Một số tài liệu trên internet và tư liệu điền dã

(25) http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k62202176.item

(26) https://www.delcampe.net/fr/collections/cartes/autres/carte-lever-de-la-place-de-bien-hoa-et-de-ses-environs-363149798.html




































LÝ VIỆT DŨNG- VĂN BIA MIẾU KHỔNG TỬ VĨNH LONG

BÀI VĂN BIA MIẾU KHỔNG TỬ Ở VĨNH LONG
Song Hào Lý Việt Dũng



Cụ Phan Thanh Giản, vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Bộ, sinh thời có viết ba bài văn bia. Bài thứ nhất viết về chuyện bà Tiên nữ A Na Thiên Y, dựng tại đền thờ Ponagar ở Nha Trang. Bài thứ hai viết về Sư biểu Võ Trường Toản, dựng tại miếu cụ Võ ở làng Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Bài thứ ba viết về Khổng Tử dựng tại miếu Văn Thánh ở Vĩnh Long. Bài 1 và 2 chúng tôi đã dịch và đăng trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển ở Huế (số 2 (28) và 3 (29) năm 2000). Để cho trọn bộ, chúng tôi xin cố gắng dịch bài văn bia miếu Văn Thánh ở Vĩnh Long và cũng gởi đăng ở báo Nghiên cứu và Phát triển. Dĩ nhiên, văn bia rất khó dịch nên xin độc giả kiểu chính cho những sai sót khó tránh khỏi. Trân trọng cám ơn.

I. Nguyên văn

永隆文聖廟碑

天祐下民,作之君,作之師,而以治與教 命,焉其爲惠爱也至矣。惟治記見於當時而教傳之萬祀。必有教焉而後治有所措,情,此教之於治民其最切要,而不可一日無者也。

大哉,夫子之道,爲天地立心,爲生民立命,爲往聖繼絕學,爲萬世開太 平,所以歷大崇祀,而莫之在替者也。

我皇朝隆師重道稽古立教,首善大成殿,體製尊嚴,数百年來,欽崇作養,治教休明,於是乎。在南圻六省地势遼隔,幾三千里,開闢獨後。

LÝ VIỆT DŨNG- VĂN BIA MIẾU KHỔNG TỬ VĨNH LONG

BÀI VĂN BIA MIẾU KHỔNG TỬ Ở VĨNH LONG
Song Hào Lý Việt Dũng



Cụ Phan Thanh Giản, vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Bộ, sinh thời có viết ba bài văn bia. Bài thứ nhất viết về chuyện bà Tiên nữ A Na Thiên Y, dựng tại đền thờ Ponagar ở Nha Trang. Bài thứ hai viết về Sư biểu Võ Trường Toản, dựng tại miếu cụ Võ ở làng Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Bài thứ ba viết về Khổng Tử dựng tại miếu Văn Thánh ở Vĩnh Long. Bài 1 và 2 chúng tôi đã dịch và đăng trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển ở Huế (số 2 (28) và 3 (29) năm 2000). Để cho trọn bộ, chúng tôi xin cố gắng dịch bài văn bia miếu Văn Thánh ở Vĩnh Long và cũng gởi đăng ở báo Nghiên cứu và Phát triển. Dĩ nhiên, văn bia rất khó dịch nên xin độc giả kiểu chính cho những sai sót khó tránh khỏi. Trân trọng cám ơn.

I. Nguyên văn

永隆文聖廟碑

天祐下教民,作之君,作之師,而以治與教 命,焉其爲惠爱也至矣。惟治記見於當時而教傳之萬祀。必有教焉而後治有所措,情,此教之於治民其最切要,而不可一日無者也。

大哉,夫子之道,爲天地立心,爲生民立命,爲往聖繼絕學,爲萬世開太 平,所以歷大崇祀,而莫之在替者也。

我皇朝隆師重道稽古立教,首善大成殿,體製尊嚴,数百年來,欽崇作養,治教休明,於是乎。在南圻六省地势遼隔,幾三千里,開闢獨後。

Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2016

Lý Việt Dũng- Nghi thức giựt giàn trong Thủy Lục Pháp Hội!


Học giả Lý Việt Dũng phát biểu trong một hội thảo tại Văn Miếu Trấn Biên 2015
NGHI THỨC GIỰT GIÀN TRONG THỦY LỤC PHÁP HỘI
Song Hào Lý Việt Dũng

Phật giáo Hoa Việt cứ vào tháng bảy âm lịch mỗi năm, chính thức là ngày Rằm, đều tổ chức long trọng lễ Thủy Lục Pháp Hội, còn gọi Thủy Lục Đạo tràng hay chỉ gọi tắt là Thủy Lục. Nhiều học giả cho rằng Thủy Lục Pháp Hội là sự kết hợp giữa Lục Đạo Từ Sám tức Lương Hoàng Sám của Lương Võ Đế và Minh Đạo Vô Già Đại Trai của Đường Mật Tông. Nhưng theo quyển 33 Phật giáo Thống kỷ thì tối sơ, Thủy Lục Pháp Hội do Lương Võ Đế nằm mộng thấy tăng khải thị rồi sau đó được báo chí khuyến thuyết, tra cứu nghi văn trong Đại Tạng mà soạn thành nghi thức và kiến lập đại lề lần đầu tiên tại chùa Kim Sơn vào năm Thiên Giám thứ 4 (505 Tây lịch).

Nói rõ hơn, Thủy Lục Pháp Hội còn gọi là Thủy Lục Trai, Thủy lục Đạo Tràng, Bi Trai Hội, là một trong những lễ hội giàu tính từ hi thí cúng vật thực cho ma đói thuộc loài hữu tình trên bờ, dưới nước, hầu cứu bạt chúng bớt khổ. Theo quyển 4 sách Chính Môn Thống Kỷ thì sở dĩ gọi là Thủy Lục Pháp Hội là vì “Chư tiên trí thực ư lưu thủy, quỷ trí thực ư tịnh địa (lục)”. Về ý nghĩa lợi lạc của Thủy Lục Pháp Hội chúng tôi trích câu nói của Tông Trách trong “Thủy Lục Duyên Khởi” đế minh định: “Nay ta cúng Phật hay dâng trai cho một vị Tăng còn có công đức vô lượng, huống hồ cúng dường thể tam bảo mười phương, vạn linh trong lục đạo.(Kim chi cúng Phật, trai nhất Tăng thượng hữu vô hạn công đức, hà huống phổ thông cúng dường thập phương tam bảo, lục đạo vạn linh).

Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2016

LÝ VIỆT DŨNG- GÓP Ý 02


Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ, số 4(26).1999

GÓP Ý MỘT VÀI SAI SÓT TRONG QUYỂN :

“TỰ VỊ TIẾNG VIỆT MIỀN NAM” CỦA CỤ VƯƠNG HỒNG SỂN
Lý Việt Dũng

Cụ Vương Hồng sển (VHS) là một nhà cổ ngoạn lớn của đất Nam Bộ. Khi qua đời cụ đã để lại cho người lớp sau nhiều tác phẩm giá trị về nhiều địa hạt mà Tự Vị Tiếng Việt Miền Nam (TVTVMN) do Nxb. Văn hóa-Hà Nội ấn hành năm 1993 là một trong những công trình đó. Tuy nhiên, quyển sách của cụ dù được biên soạn công phu rất có ích cho học giới về nhiều mặt, nhưng vẫn chưa được toàn bích. Vì yêu mến “Pề Hến” (bác Vương), “ông già gân miền Nam” nên chúng tôi xin mạo muội góp ý một vài điểm mà sách còn lâm vấp để mong góp một phần mọn việc thành toàn nó ở lần tái bản sau, và như mọi khi, chúng tôi góp ý một ma học của tác giả tới ngàn lần hơn!