Thứ Bảy, 21 tháng 10, 2017

NAM TIẾN VÀ DẤU TÍCH HẬU DUỆ THÁI DƯƠNG THẦN NỮ! (P6)

CHUYÊN KHẢO VỀ NAM BỘ
I- NAM TIẾN

Phần 1: 

HẬU DUỆ THÁI DƯƠNG THẦN NỮ Ở THỦY CHÂN LẠP


Ảnh 01- các chiến binh Samurai vào cuối thế kỷ 16.
Đầu thế kỷ thứ 17, Campuchia lúc bấy giờ đang bị ảnh hưởng chi phối bởi vương quốc Ayutthaya (Xiêm la - ngày nay là Thái Lan). Sau 10 năm bị cầm giữ làm con tin ở Xiêm La, hoàng tử Ponhea Nhom, thái tử con vua Khmer Borommarcha VII trở về nước lên ngôi vua, xưng là Chey Chettha II (Khmer: ជ័យជេដ្ឋាទី២, 1576–1628) (Khmer: ជ័យជេដ្ឋាទី២, 1576–1628).
Với hùng tâm khôi phục đế quốc Khmer, vua cho lập kinh đô mới ở Oudong (1618), nổ lực phát triển kinh tế, quân sự; tìm kiếm sự hổ trợ từ nhiều nguồn lực bên ngoài, nhằm đưa đất nước trở về độc lập, thoát khỏi ách kềm kẹp của vương quốc Ayutthaya.

1- NHỮNG CHIẾN BINH SAMURAI.
Theo các ghi chép của các cha đạo Dòng Tên thời kỳ ấy cùng các nghiên cứu mới nhất; người Nhật Bản đã có mặt tại vương quốc Khmer từ cuối thế kỷ 16 qua các quan hệ thương mại mua bán, đến đầu thế kỷ 17 thì số lượng người Nhựt ở đây lên đến khoảng 1500 người, họ được quy hoạch sống tập trung ở 2 khu gần Phnom Penh (1614) và Ponhea Leu (1618).
Họ là những:
*Thương nhân, đến đây buôn bán và thường dân làm các công việc hỗ trợ.
*Người công giáo phải bỏ đất nước ra đi, vì luật cấm đạo của Mạc Phủ Tokugawa.
*Lực lượng chiến binh Samurai đến đây có thể qua hai thời điểm:
1- Trận chiến nổi tiếng nhất lịch sử Nhật Bản: trận Sekigahara (Quan nguyên chi chiến) xảy ra năm 1600.
2- Trận vây hãm Ōsaka (1614-1615)
Các chiến binh này thuộc lực lượng của các lãnh chúa đối nghịch với Tướng quân Tokugawa Ieyasu (Đức xuyên gia khang, người chiến thắng và lập ra Mạc phủ từ 1603 đến 1867). Bị thất bại trong 2 trận chiến trên, một số các chiến binh đã rời khỏi đất nước, phiêu bạt đến các nước lân bang.
Khi đến đất mới, đa số họ làm nghề lính đánh thuê, vệ sĩ, sĩ quan cao cấp trong các chính quyền sở tại.
2- CUỐI THẾ KỶ 16 ĐẦU THẾ KỶ 17
Thời gian đầu Nhật kiều lưu vong vẫn giữ mối liên lạc với nước mẹ qua các chuyến hàng buôn bán của các thương gia, các hoạt động của các vị thừa sai công giáo, các gián điệp của lực lượng Samurai lưu đày mơ ngày phục hận…
Nhưng mơ ước một ngày sẽ trở về quê mẹ của cộng đồng lưu dân này đã chấm hết khi lệnh Tỏa Quốc do Mạc phủ ban hành.
Tỏa Quốc (Sakoku) có nghĩa là "khóa đất nước lại" là chính sách đối ngoại của Mạc phủ, theo đó không người nước ngoài nào được vào nước Nhật Bản hay người Nhật được rời xứ sở; kẻ vi phạm phải chịu án tử hình. Lệnh này và một số chính sách, chiếu chỉ ban hành từ năm 1633 đến 1639, và cho mãi đến năm 1868, lệnh cấm dân Nhật xuất ngoại vẫn còn hiệu nghiệm.
Không như các cộng đồng lưu dân khác cùng đến đất này: Chine, Cochinchine, Champa…Chính với sự phong tỏa đất nước gắt gao, không có thông thương qua lại giữa lưu dân với đất mẹ…qua nhiều thế hệ, các cộng đồng lưu dân này cuối cùng đã hòa tan vào các cộng đồng khác cư trú tại địa phương. Do đứt hẳn mối dây liên hệ với nước mẹ, thiếu người Nhật mới đến và rất ít khả năng tự đổi mới, di sản văn hoá, ngôn ngữ, tôn giáo, truyền thống của họ đã tự biến mất.
3- DI DÂN VÀ ĐỊNH CƯ
Từ cuối thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 17, hoạt động của người Nhật ở khu vực đông á, đông nam á và các vùng lân cận phát triển mạnh mẽ, họ di cư đến: Ma Cao (Trung Quốc), Tonkin (Đàng Ngoài), Cochinchine (Đàng Trong), Cambodia (Cao Miên), Siam (Xiêm La), Batavia (Jakarta)…Nhiều cộng đồng định cư Nhật Bản được thành lập (được gọi là Nihonmachi trong tiếng Nhật), lớn đáng kể nhất là ở Siam, Cambodia và Cochinchina.

1- Siam (Ayutthaya- Bangkok)
Theo các tài liệu giáo sĩ dòng tên và các ghi chép của người Châu Âu; thời cực thịnh vào khoảng những năm 1620s, ở Siam có từ 1000 đến 1500 người cư trú, kiều dân Nhật ở đây đa số là thương nhân, giáo sĩ, giáo dân công giáo và các chiến binh lưu vong (Rônin). Sau các biến cố về tôn giáo ở chính quốc, số lượng người công giáo Nhật đến lưu trú ngày càng đông; giáo xứ công giáo được thành lập vào năm 1626, quản lý hơn 400 giáo dân. Lực lượng chiến binh Nhật tham gia tích cực vào các cuộc biến chính trị tại Siam, nó chính là nguyên nhân chính dẫn đến sự kiện: tháng 10 năm 1630 vua Prasat Thong của Siam lúc bấy giờ đã ra lịnh đốt cháy khu định cư của Nhật kiều, người Nhật một số bị giết, số bị đuổi ra khỏi Siam, một số chạy qua Cambodia, một số đào thoát về quê hương…Đến năm 1632, chính vua Prasat Thong vì muốn thiết lập lại nền thương mại với nước Nhật, đã thay đổi chính sách, mời Nhật kiều đào thoát qua Cambodia trước kia, quay lại Siam. Sau đó có khoảng hơn 300 người đã trở lại; nhưng năm sau (1633) khu Nihonmachi ở đây lại bị cháy rụi, thiệt hại người và tài sản thật lớn…từ đó khu định cư này tàn lụi dần, nhiều người bỏ sang định cư ở Cambodia, một số tìm cách trở về nước.
2- Cambodia (Phnom Penh- Ponhea Lueu)
Theo tư liệu của các tu sĩ Dòng Tên, người nhập cư Nhật Bản đã thành lập 2 khu phố: ở Phnom Penh năm 1614 và Ponhea Lueu vào năm 1618, và tồn tại cho đến năm 1667; ước tính có hơn 1500 người Nhật lưu trú ở Cambodia trong thời gian này. Tại Phnom Penh, khoảng năm 1615, đã có một giáo xứ và một cộng đồng gồm hơn 70 giáo dân lưu trú; những năm 1620 và 1630, có ba linh mục ngưới Nhật Bản làm việc ở đó.
Nhật kiều ở đây một số phục vụ cho chính quyền sở tại, họ nắm giữ các vị trí khá quan trọng như: hộ vệ hoặc quan chức cho hoàng gia. Khoảng năm 1650, một trong số những người Nhật này chiếm được vị trí quan trọng trong triều đình Cao Miên.
*Theo nghiên cứu mới nhất của ông Hiroshi Sugiyama năm 2004, nhóm ông đã phát hiện ra dấu vết một ngôi làng Nhật Bản từ thế kỷ 17 tại xã Ponhea Lueu, cách Phnom Penh 25 km về phía bắc. Phát hiện dưới tầng đất cho thấy, có khoảng 100 người Nhật đã sống trong làng trong thời gian đó và hầu hết họ đều tham gia vào các hoạt động tôn giáo và buôn bán.
3- Cochinchina (Faifo- Hội An).
Từ cuối thế kỷ 16, đã có người Nhật đến buôn bán và lưu trú tại Hội An, qua đến đầu thế kỷ 17, khi Mạc Phủ Tokugawa tăng cường bức hại đạo công giáo thì nơi này nhận được nhiều đợt nhập cư của người Nhật. Theo tư liệu của các giáo sĩ Dòng Tên, Đàng trong lúc bấy giờ là một trong những nơi cư ngụ ưa thích của người Nhật. Tại đây, có thể tìm thấy 2 khu định cư, một ở Faifo (Hội An) được thành lập vào năm 1617 và tồn tại cho đến năm 1696, và một ở Touran (Đà Nẵng) được thành lập vào năm 1623; ước tính có khoảng 300 người Nhật sống ở Đàng Trong . Đa số là giáo dân công giáo và họ xây dựng một nhà thờ trong khu phố của họ để các nhà truyền giáo từ Macao đến lưu trú.
*Theo Võ Văn Hoàng (Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng)
Lúc này ở Đàng Trong, chúa Nguyễn đã thi hành một số biện pháp nhằm hạn chế sự phát triển của đạo Thiên Chúa, nhưng trong một chừng mực nhất định, vì muốn phát triển Quảng Nam nên chúa Nguyễn đã cho phép họ được truyền đạo tại Hội An.Được sự đồng ý của chúa Nguyễn, người Nhật tiến hành chọn đất và xây dựng khu phố của mình gọi là “Nhật Bản phố”. Năm 1618, Giáo sĩ dòng Tên người Ý là Cristophoro Borri đến Hội An, ông viết: “Thành phố ấy gọi là Faifo (Hội An), một thành phố lớn đến độ có thể nói là có đến hai thành phố, một phố của người Tàu, một phố của người Nhật. Mỗi phố có khu vực riêng, có quan cai trị riêng và sống theo tập tục riêng. Người Tàu có luật lệ và phong tục của người Tàu, người Nhật cũng vậy”. Trong mỗi khu phố, người ta bầu ra một vị trưởng khu. Vị này được chúa Nguyễn và chính quyền Nhật Bản tin cậy, họ được cử làm các công việc như thu thuế, phiên dịch và cố vấn thương mại cho chúa Nguyễn, đồng thời chịu trách nhiệm về khu vực mà mình quản lý. Hình ảnh phố Nhật (Nihonmachi) ở Hội An giống với phố Nhật ở một số nước Đông Nam Á như: Pinhalu và Phnompenh ở Cambodia; Ayutthaya ở Siam.
Căn cứ vào những chú thích trên bức tranh Giao Chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ được vẽ trước năm 1640 của dòng họ Chaya, hiện đang lưu giữ tại chùa Jomyo ở Gen Chozan Nichiren Shu, phố Tsutsui, thành phố Nagoya, tỉnh Aichi. Nhà nghiên cứu Nhật Bản Ogura Sadao cho rằng, vị trí của khu phố Nhật ở Hội An thế kỷ XVII dài khoảng 300m, có hai dãy nhà nằm trên một con lộ chính và cách không xa vùng cửa sông. Điều này tương ứng với những miêu tả của các thương gia Nhật Bản khi họ trở về cố quốc, đó là một thành phố nằm cách biển 3,39 km, có khoảng 500 – 600 ngôi nhà. Các ngôi nhà ở phía trước giáp đường thường được lợp ngói, vách trát đất, còn nhà trong chỉ là mái lá tạm thời.
Các nhà nghiên cứu đã tiến hành nhiều đợt điều tra, khảo sát về kiến trúc cổ Hội An. Kết quả cho thấy khu phố có hình chữ nhật, chạy dài từ đông sang tây khoảng 900m; còn chiều ngang khoảng 300m. Trong khu vực này, hiện đang tồn tại khoảng 984 ngôi nhà, trong đó có 400 ngôi nhà cổ. Nếu chia khu phố cổ thành 14 khối theo trục đường Trần Phú để khảo sát, thì khu phố Nhật Bản có hơn 50% số nhà thuộc loại cổ. Ogura Sadao cho rằng số dân theo điều tra kiến trúc cổ này nếu một hộ có khoảng từ 6 đến 7 người, thì dân số Hội An lúc đó độ khoảng 3.000 - 4.000 người. Căn cứ vào diện tích của số căn nhà trong khu phố Nhật Bản, thì dân số cư trú trong khu phố cổ Hội An vào đầu thế kỷ 17 không quá 1.000 người. Trong đó, người Nhật có khoảng 60 gia đình, nếu mỗi gia đình có trung bình từ 4 đến 5 nhân khẩu, thì có khoảng 200 đến 300 người Nhật định cư tại Hội An. Tuy nhiên cũng có tác giả cho rằng vào đầu thế kỷ 17 đã có đến 700 người Nhật sinh sống ở Hội An.
Người Nhật đã xây dựng ở Hội An một công trình kiến trúc mang tên “Nhật Bản nhân thương quán” (Thương quán của người Nhật Bản) để sử dụng trong việc hội họp và giao dịch thương mại của mình. Đến năm 1635, Chính quyền Tokugawa thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng”, nước Nhật đóng cửa hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Từ đó, người Nhật ở Hội An bị mất liên lạc với chính quốc, khiến các thương nhân Nhật Bản rơi vào tình trạng bị cô lập và không đủ sức đối phó với thương nhân Trung Hoa đang phát triển mạnh mẽ. Trước tình hình đó, người Nhật đã chuyển nhượng Thương quán lại cho cư dân Minh Hương sử dụng làm Tổ Đình của người Minh Hương, sau này gọi là chùa Bà Mụ. Hiện nay chùa Bà Mụ chỉ tồn tại một phần cổng tam quan được xây dưới thời Tự Đức, mọi dấu vết kiến trúc của Thương quán Nhật xưa giờ không còn hiện hữu.
Đến nửa đầu thế kỷ 17, người Nhật ở Hội An giảm dần. Theo bản báo cáo của Francisco Goraemon - một tín đồ Thiên Chúa người Nhật viết ngày 28-5-1642 gửi cho thương quán của Hà Lan ở Batavia (Indonesia), thì ở Hội An lúc này còn khoảng 40 – 50 người Nhật sinh sống và họ thường xuyên qua lại Manila và Siam để buôn bán. Tháng 8-1695, Công ty Đông Ấn của Anh ở Madras đã phái thương nhân Thomas Bowyear đến Đàng Trong để điều tra tình hình buôn bán và xin thành lập thương quán ở Hội An, nhưng đề nghị của ông không được Chúa Nguyễn chấp thuận. Ông thấy: “Faifo gồm một đường phố trên bờ sông và hai dãy nhà, có khoảng 100 nóc nhà của người Tàu, cũng có 4 hay 5 gia đình người Nhật Bản. Xưa kia người Nhật là cư dân chính và làm chủ việc thương mãi ở hải cảng này, nhưng số ấy đã giảm bớt và của cải của họ cũng sút kém. Sự quản trị công việc đã trao vào tay người Tàu. Mỗi năm có độ 10 hay 12 chiếc thuyền từ Nhật, Quảng Đông, Xiêm, Cao Miên và Batavia đến…”. Cùng năm, thiền sư Trung Hoa là Thích Đại Sán đến Hội An, ông thấy thẳng bờ sông là một con đường dài ba bốn dặm, hai bên đường hàng phố ở liền nhau khít rịt, chủ phố tất thảy đều người Phước Kiến. Đến năm 1766, những thương gia Nhật Bản cuối cùng ở Hội An đã vượt bao khó khăn, cách trở để trở lại vùng Taga, thuộc lãnh địa Hitachi (Nhật Bản) đoàn tụ với gia đình [sic].

4-ĐỊA DANH NHẬT BẢN TRONG THƯ TỊCH, TÀI LIỆU XƯA
Chúng tôi đọc trong một số bản đồ cổ được vẽ vào thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18, phát hiện khu vực Mỹ Tho- Bến Tre ngày nay, con sông đổ ra cửa biển hướng đông- cửa Đại được ghi chú là:
R. Japonoise, Japanese River, R. Iapante…
Qua tham khảo các thư tịch cổ của Việt Nam:

1/Trong Gia Định Thành Thông Chí của quan Trịnh Hoài Đức chép trể nhất là vào năm 1820, mục Trấn Định Tường:
..."Giồng Nhật Bản: ở cồn Nhật Bản, trồng bông vải, khoai lang, khoai nước. Nhà cửa ẩn hiện trong bóng tre trúc, cổ thụ um tùm" (trang 54)
..."Đại Hải Môn (cửa Đại)...phía tây cảng có cồn Nhật Bản, trên cồn có trạm đồn trú.
2/Trong Đại nam Nhất Thống Chí- Tập 5, tỉnh Định Tường chép:
"Giồng Nhật Bản: ở cách huyện Kiến hòa 65 dặm về phía đông" (trang 109)
"Tấn cửa Đại:....Bãi Nhật Bản ở phía tây lạch..." (trang 127)
mặt cồn nỗi cát ngầm, tục gọi là cồn Tàu..." (trang 57)
3/Trong địa bạ Minh Mạng 1836 :
Tỉnh Định Tường, huyện Kiến Hòa, tổng Hòa Thanh có:
(1) Minh Đức thôn ở xứ Nhựt Bổn (Nhật Bản)
(2) Thọ Phú thôn ở xứ Nhựt Bổn (Nhật Bản)

4/Trong Nam Kỳ Lục Tỉnh của Duy Minh Thị soạn năm 1872- Đại Việt Tạp Chí ấn tống năm 1944.
Mục tỉnh Định Tường, trang 59 thấy chép: Hướng tây là cù lao Nhựt Bổn (Nhật Bản), trên cù lao có đồn thủ ngự, trước có cồn cát nổi tục danh là cồn Tàu…
Dựa vào các tư liệu trên, chúng tôi tra cứu thêm các tài liệu khác thì thấy các địa danh này, ngày nay thuộc xã Thừa Đức và các vùng lân cận thuộc Huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
Phải chăng trong suốt thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17 trước các cuộc nội chiến triền miên, và sự xâm nhập của chính quyền đàng trong, một số lưu dân Nhật Bản ở hải ngoại đã chạy ra cửa biển này tạm cư, hướng về biển đông mong ngày về cố thổ… thế nhưng lệnh phong tỏa tại Nhật Bản vẫn nghiêm ngặt, khốc liệt…Họ đã tụ cư lại nơi đây đây, vỡ hoang đất đai, xây dựng xóm làng trên các cồn, giồng đất, qua vài thế hệ, họ dần dần hòa tan vào các cộng đồng lân cận…ngày nay chỉ còn lưu dấu lại các địa danh ở miền đất này; nhưng Họ từ đâu đến ?




Ảnh 02- Sông Tiền trong 1 bản đồ cổ thế kỷ 17 được chú là R. Japanese (sông Nhật Bản)


Ảnh 03- Xác định xứ Nhật Bản trong thư tịch xưa, nay là vùng cửa Đại-tỉnh Bến Tre ngày nay


Ảnh 04-Người Nhật Bản trong 1 ấn phẩm xuất bản năm 1595.




Ảnh 05- Bản đồ Angkor Wat do người hành hương Nhật Bản vẽ vào khoảng năm 1623-1636.



Ảnh 06- Tranh vẽ một lưu dân Nhật Bản tại Đông Nam Á vào thế kỷ 17.

Phần II: TRUY TÌM DẤU XƯA- Họ từ đâu đến và đã đi đâu?
(tiếp theo) 
...

Biên Hòa , Nguyên- Phong Lê- Ngọc- Quốc

Phone: 0903906956





Thứ Sáu, 21 tháng 7, 2017

HOÀNG HẬU Samdach Bhagavati Brhat..., NÀNG LÀ AI?

*Nam Tiến (p1)
Tranh vẽ người Quảng Nam trong tác phẩm Boxer codex- 1590.

Theo thư tịch cổ thì vùng đất nam bộ ngày nay, xưa kia vốn là đất Chân Lạp.

Chính Sử:
Đại nam thực lục- tiền biên của quốc sử quán thấy truyện về Chân Lạp bắt đầu được chép từ năm 1658:

- Tháng 9 năm mậu tuất (1658) vua nước Chân Lạp (vốn tên là Cao Miên) là Nặc Ông Chân xâm lấn biên thùy. Dinh Trấn Biên báo lên, Chúa sai Phó tướng Trấn Biên là Tôn Thất Yến, Cai đội là Xuân Thắng, Tham mưu là Minh Lộc (2 người đều không rõ họ) đem 3.000 quân đến thành Hưng Phước (bấy giờ gọi là Mỗi Xuy, nay thuộc huyện Phước Chính, tỉnh Biên Hòa) đánh phá được, bắt Nặc Ông Chân đưa về. Chúa tha tội cho và sai hộ tống về nước, khiến làm phiên thần, hàng năm nộp cống.

Ngoại Sử:
Biên niên sử của Cao Miên chép về vùng đất này vào thời kỳ ấy có nhiều sự kiện hơn:

*
Gorges Maspero Maspéro:
-Vị vua mới lên ngôi là Chey Chettha II (Ponhea Nhom) cho xây một cung điện tại Oudong, ở đây ông làm lễ thành hôn với một công chúa con vua An nam. Bà này rất xinh đẹp, về sau có ảnh hưởng lớn đến vua. Nhờ bà mà một phái đoàn An nam đã xin và được vua Chey Chettha II  cho lập thương điếm ở miền nam Cao Miên, nơi này nay gọi là Sài Gòn.
(Trích trong tác phẩm L’ Empire Khmer )

*Jean Moura:
Tháng 3 năm 1618,... vua An Nam gả một người con gái cho vua Cao Miên. Công chúa này rất đẹp, được nhà vua yêu mến và lập làm hoàng hậu tước hiệu Samdach...
(Trích trong tác phẩm Royaume du Cambodge-1883)

*Henri Russier:
Chúa Nguyễn lúc bấy giờ rất vui mừng thấy Cao Miên muốn giao hảo bèn gả công chúa cho vua Cao Miên. Công chúa xinh đẹp và được vua Miên yêu quý vô cùng...Năm 1623, sứ bộ Việt từ Huế đến Oudong yết kiến vua Cao Miên, dâng ngọc ngà châu báu, xin người Việt được khai khẩn và lập nghiệp tại miền Nam...Hoàng hậu xin chồng chấp thuận và cua Chey Chetta đã đồng ý...
(Trích trong Histoire sommaire du Royaume de Cambodge- 1914)

*Achille Dauphin Meunier:
Năm 1623, Chey Chettha II, người đã cưới công chúa Việt Nam, được triều đình Huế giúp đỡ để chống lại quân Xiêm... Một sứ bộ Việt Nam đã tới bảo đảm với Chey Chetta về sự ủng hộ của triều đình Huế. Sứ bộ xin phép cho dân Việt Nam tới lập nghiệp Việt Nam tới lập nghiệp ở các tỉnh phía Đông Nam Vương Quốc. Vua Cao Miên cho phép lập một phòng thu thuế tại Prey- Kôr để hỗ trợ việc định cư... 
(Trích trong cuốn Le Cambodge- 1965)

Như vậy từ đầu thế kỷ thứ 17, theo biên niên sử Cao Miên thì vua Chey Chettha II đã cưới một người con gái của chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên), và do ảnh hưởng của mối quan hệ ấy, quân và dân Đại Việt đã từng bước có mặt trên vùng đất Mô Xoài- Đồng Nai- Sài Gòn.
Khi tiếp cận các tài liệu này cụ Phan Khoang trong tác phẩm Việt Sử Xứ Đàng Trong- 1967 cũng đã đưa hành trạng của vị Hoàng Hậu Cao Miên gốc Việt vào chương Nam Tiến, mục II trang 309:

- Vua Chân Lạp Chey Chetta II muốn tìm một đối lực để chống lại lân bang Tiêm La nguy hiểm kia, đã xin cưới một công chúa Nguyễn làm hoàng hậu, trông mong được sự ủng hộ của triều đình Thuận Hóa, và chúa Hi Tông, có mưu đồ xa xôi, năm 1620 đã gả cho vua Chân Lạp một công chúa...
Trong phần ghi chú ông có bàn :

 Việc này, sử ta đều không chép, có lẽ các sử thần nhà Nguyễn cho là việc không đẹp, nên giấu đi chăng? Nhưng nếu họ quan điểm như vậy thì không đúng. Hôn nhân chính trị, nhiều nước đã dùng, còn ở nước ta thì chính sách đã đem lại ích lợi quan trọng. Đời nhà Lý thường đem công chúa gả cho các tù trưởng các bộ lạc thượng du Bắc Việt, các bộ lạc ấy là những giống dân rất khó kiềm chế. Nhờ đó mà các vùng ấy được yên ổn, dân thượng không xuống cướp phá dân ta, triều đình thu được thuế má, cống phẩm; đất đai ấy, nhân dân ấy lại là một rào dậu kiên cố ở biên giới Hoa-Việt để bảo vệ cho miền Trung Châu và kinh đô Thăng Long. Đến đời Trần, chính đôi má hồng của ả Huyền Trân đã cho chúng ta hai châu Ô, Lý để làm bàn đạp mà tiến vào Bình Thuận. Sử ta không chép, nhưng theo các sách sử Cao Miên do các nhà học giả Pháp biên soạn, mà họ lấy sử liệu Cao Miên để biên soạn thì quả Chey Chetta II năm 1620 có cưới một công nữ con chúa Nguyễn. 
Giáo sĩ Borri, ở Đàng Trong trong thời gian ấy cũng có nói đến cuộc hôn nhân này. Xem "Đại Nam liệt truyện Tiền biên" (mục Công Chúa), thấy chúa Hi Tông (tức chúa Sãi) có bốn con gái, hai nàng Ngọc Liên, Ngọc Đãng thì có chép rõ sự tích chồng con, còn hai nàng Ngọc Vạn, Ngọc Khoa thì chép là "khuyết truyện", nghĩa là không có tiểu truyện, tức là không biết chồng con như thế nào. Vậy người gả cho vua Chey Chetta II phải là Ngọc Vạn hoặc Ngọc Khoa[sic].

Xem trong Đại nam liệt truyện, mục Truyện các công chúa- Chúa Hi Tông (Chúa Sãi- Nguyễn Phúc Nguyên) có bốn người con gái:
1- Hoàng nữ Ngọc Liên 
Là chị cùng mẹ với hoàng tử Kỳ gã cho trấn biên doanh trấn thủ phó tướng Nguyễn Phúc Vinh (Vinh là con trưởng Mạc Cảnh Huống).
2- Hoàng nữ Ngọc Vạn 
Là em cùng mẹ với hoàng tử Kỳ, không có truyện.
3- Hoàng nữ Ngọc Khoa 
Là em cùng mẹ với hoàng tử Kỳ, không có truyện.
4-Hoàng nữ Ngọc Đỉnh 
Sinh mẫu là ai không rõ, lấy phó tướng Nguyễn Cửu Kiều. Năm Giáp tý (1684, Lê Chính Hòa năm thứ 5), mùa đông, Ngọc Đĩnh Mất.
Tương tự, trong Généalogie des Nguyễn avant Gia Long (Phổ hệ nhà Nguyễn trước Gia Long) của hai cụ Tôn Thất Hân và Bùi Thanh Vân- Bulletin des Amis de vieux Huế- 1920; cũng chỉ ghi: Ngọc Vạn, Ngọc Khoa là con gái thứ của Sãi vương, không để lại dấu tích.

Không rõ có tài liệu nào ngoài suy đoán chưa chắc chắn của cụ Phan Khoan năm 1968 "Vậy người gả cho vua Chey Chetta II phải là Ngọc Vạn hoặc Ngọc Khoa" ; mà trong Biên Hòa Sử Lược Toàn Biên xuất bản năm 1971- tập 1 Trấn Biên Cổ Kính, mục 1- Lược Sử (qua các thời đại), trang 21; cụ Lương Văn Lựu chép:
- Năm 1618:
Vua nước Chân- Lạp (trở nên là Kampuchéa sau này) là Chey Chetta II, dời đô từ Lovéa- Em về Oudông (Vương-Luông-La- Bích ?), liên lạc với Đại-Việt, thôn tính lần hồi nước Chiêm-Thành và đến năm 1620, cưới công-chúa Ngọc-Vạn, ái nữ của chúa Sãi Hi-Tông Nguyễn-phước-Nguyên. Với cuộc hôn nhân Lạp-Việt nầy, đưa đến việc thiết-lập các cơ sở đầu tiên của Nguyễn- Chúa tại xứ Nông Nại. Phủ chúa đã gây ảnh hưởng mạnh-mẽ ở triều đình Lạp  Man và trên đất Thủy-Chân-Lạp [sic]

Đến năm 1995 bản sách Nguyễn Phúc Tộc Thế phả được xuất bản tại Huế, trong phần tiểu sử người con gái thứ hai của Chúa Sãi là hoàng nữ Ngọc Vạn- không có truyện, nay được bổ sung:
Để tỏ tình thân thiện với lân bang, năm Canh thân (1620), Ngài gả công chúa Ngọc Vạn cho  vua Chân Lạp là Chey-Chetta II. năm Quí hợi (1623) một phái bộ miền Nam đi xứ qua Chân Lạp xin với vua Chey-Chetta II nhường lại một dinh điền ở Mô Xoài gần Bà- rịa ngày nay, vua Chân Lạp phải bằng lòng. Ngoài ra vua còn cho người Việt đến canh tác tại vùng đó. [sic]

Ghi chép của linh mục Cristoforo Borri - Roma 1631

Lúc bấy giờ, vào thời điểm các sự việc xảy ra mà chúng tôi trình bày ở trên; tại Đàng trong hiện diện các linh mục thừa sai Dòng Tên; trong đó có linh mục Christoforo Borri, ông đã có những ghi chép đầy thú vị về vùng đất này.
 Linh mục Christoforo Borri sinh ra trong một gia đình có địa vị tại Milano- Ý. Ngày 16 tháng 9 năm 1601, ông gia nhập Dòng Tên khi 18 tuổi. Năm 1616, từ Ma Cao Borri được gửi đi truyền giáo tại Đàng trong cùng với linh mục Pedro Marques; hai người đáp thuyền vào năm 1618. Ông cùng với hai linh mục Francisco de Pina và Francesco Buzomi đến lập cơ sở truyền giáo tại Nước Mặn (Quy Nhơn). Borri ở Hội An từ 1618 đến 1622. 
Năm 1631, tại Roma, ông cho xuất bản cuốn sách nổi tiếng bằng tiếng Ý :
Relatione della nuova missione delli P.P. della Compagnia di Gesù al Regno della Cocincina , Rome, Francesco Corbelletti- 1631 (“Tường thuật về sứ mạng mới của các linh mục thuộc phái đoàn Dòng Tên ở Vương quốc Đàng Trong”).
Cùng năm này sách được tái bản ở Milan; một bản dịch tiếng Pháp của linh mục Antoine de la Croix, người xứ Renne, công bố ở Lille cũng vào năm 1631. Cuối cùng người ta dịch nó bằng tiếng Hà Lan ở Liège, bằng tiếng Latin ở Vienne, rồi bằng tiếng Đức và tiếng Anh (theo tư liệu trong B.A.V.H tập 1931); Trong tài liệu này Bori có vài dòng về lai lịch của cô con gái của Chúa Nguyễn gả cho vua Chân Lạp”.
Từ bản gốc xuất bản tại Ý “ Rome, Francesco Corbelletti- 1631”  trung tá A. Bonifacy, giảng viên tập sự bộ môn lịch sử địa phương ở Viện đại học Hà Nội, đặc phái viên của trường Viễn đông bác cổ đã dịch và được đăng trên B.A.V.H tập XVIII năm 1931, lai lịch của cô con gái của Chúa Nguyễn gả cho vua Chân Lạp” nằm tại trang 329- 330.
Nội dung:
“En outre, il est continuellement à préparer et à mettre en marche des farces pour soutenir le roi du Cambodge,  mari d’une de ses filles bâtarde, le secourant de ses galères et de ses soldats contre le roi du Siam. C’est ainsi que partout, aussi bien sur terre que par mer, résonne le nom glorieux, et est honorée la valeur des armées de la Cochinchine” [sic].

Bản dịch của trung tá A. Boniface, được kiểm duyệt bởi các học giả Viện Viễn Đông Bác Cổ, liệu có chính xác theo nguyên tác "Relatione della nuova missione delli P.P. della Compagnia di Gesù al Regno della Cocincina , Rome, Francesco Corbelletti- 1631"  hay không? và lai lịch cô con gái của Chúa Nguyễn gả cho vua Chân Lạp” mà linh mục Borri “mắt thấy tai nghe” ghi chép lại tại Đàng Trong từ năm 1618 đến năm 1621 liệu có khả tín hay không?...

Bí mật lịch sử vẫn còn ở trước mặt chúng ta!
Nguyên Phong- Lê Ngọc Quốc.

* Bản tiếng Ý cổ 1631:
In oltre ftà in continui preparamenti e moti d’arme
per fouuenire al Re di Cam-bogia marito d’vna fua figlia baftarda foccorrendolo e con Galere, e co’ foldati contro il Re de Siam, che però per ogni parte cofi di terra, come di mare rifuona gloriofo il nome, & honorato il grido del valore dell’Armi della Cocincina.

(Đa tạ lão đại đã nhọc công trợ giúp)

 Tranh vẽ được cho là cảnh hộ tống một công nương con chúa Sãi gả cho một thương gia Nhật Bản

Tranh mô tả sinh hoạt của người Đàng Trong trong tác phẩm
Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà 1792 - 1793
-J. Barrow.


Tranh mô tả sinh hoạt của người Đàng Trong trong tác phẩm
Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà 1792 - 1793
-J. Barrow.




Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2017

THÀNH CỔ BIÊN HÒA- TRUY TÌM DẤU XƯA

Sa bàn bình đồ Thành Biên Hòa xưa chồng lên vị trí tương đối trên bản đồ phường Quang Vinh Thành phố Biên Hòa 2019.



Dấu vết Thành Biên Hòa trong bản đồ năm 1926 ( bộ sưu tập của Nguyễn Đình Đầu)
Tháng giêng năm Mậu Tuất (tháng 2 năm 1838), vua Minh Mạng sai phái 4.000 binh dân xây đắp lại Thành theo thiết kế kiểu Vauban, bằng đá ong. Đây là công trình trọng đại nên ngoài quan tỉnh, còn sai phái thêm quan tỉnh Gia Định và Bình Thuận giám sát công việc. Thành có chu vi 338 trượng, cao 8 thước 5 tấc, dày 1 trượng 5 thước , xung quanh chân thành bên ngoài có hào rộng 3 trượng, sâu 6 thước. Bốn cửa thành : Đông- Tây- Nam- Bắc, mỗi cửa đều có cầu đá bắc qua hào thành, để làm lối lưu thông ra vào. Cửa Nam nhìn ra sông Phước Long (sông Đồng Nai), bên trong thành, chính giữa dựng 1 kỳ đài cao, công sở, kho lẫm, khám đường.
*Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu:
1 thước=0.424m
1 trượng= 10 thước=4.24m
1 tầm =1/2 trượng= 2.12m



Theo họa đồ: LEVER DE LA PLACE DE BIEN-HOA et de ses environs (tỉ lệ 1/12.000) ta thấy Thành Biên Hòa có bình đồ hình vuông, hoa mai 4 cánh; nằm trong phường Quang Vinh. Bốn cổng thành hướng đông- tây- nam bắc có bình đồ hình vòng cung (bán nguyệt) trước 4 cổng thành có cầu bắc qua hào thành nối với các con lộ bên ngoài. Nếu so với các bản đồ năm 1926, 1930, 1965 và bản đồ vệ tinh tháng 10/ 2016, ta có thể thấy cổng thành Nam giáp đường Cách mạng tháng tám giao vời đường Hoàng Minh Châu; cổng thành Tây giáp đường Huỳnh Văn Lũy nối dài; cổng thành Đông giáp đường Phan Đình Phùng giao với đường Trần Minh Trí; cổng thành Bắc nay nằm trong con hẽm số 176 đường Phan Đình Phùng.
Trong mặt cắt Thành tỉ lệ 1/300, ta thấy tường thành cao 4m. Tường ốp đá ong mặt bên ngoài, mặt cắt hình thang, đáy trên (mặt thành) dày 0.5m, đáy dưới rộng 1.5m âm sâu dưới mặt đất khoảng 1m. Mặt trên thành được đắp đất rộng thêm 1m (tổng cộng rộng 1.5m). Đáy thành rộng 9.6m, vát ngược hình thang, tầm cao 3m là con đường rộng 3m (thấp hơn mặt thành 0.9m) chạy bao quanh vòng thành, là con đường vận chuyển, trấn thủ chiến lược. Bên ngoài có đường đắp chạy bao quanh chân thành rộng 8.4m; kế tiếp là hào nước rộng 14m, sâu 2,4m.

Tài liệu mô tả Thành Biên Hòa trong tuần báo L'ILLUSTRATION, JOURNAL UNIVERSEL số ra ngày 01/03/1862 tại Pháp.
“T.B. Tiếp theo lá thư, tôi gởi cho ông phần mô tả thành Bien-hoa, dựa theo một bản phác họa của bộ phận công binh của đoàn xuất chinh. Thành Bien-hoa, tọa lạc ở tả ngạn dòng sông cùng tên, là một hình vuông mỗi cạnh 296m, ở mỗi giữa cạnh có phần lồi tròn để bảo vệ các góc thành. Do người Annam xây dựng khoảng 1789, theo sơ đồ của đại tá Olivier (do Louis XVI điều qua), thành Bien-hoa có thể đồn trú khoảng 15 ngàn người. Mặt nghiêng tường thành được xây bằng gạch, cao 4m, tựa đỡ cho bờ thành có trắc diện mỏng. Phía trước là đường quanh bờ kè, rộng 8m, cặp theo hố sâu 2m, rộng 13m. Có bốn chiếc cầu bằng đá bắc qua hố, trục cầu tương ứng với trục của những phần hình cong của công trình. Ta vào thành qua bốn cái cửa hoặc cửa khuất ở phía bên phải của cầu, cách phần lõm vào (hình thành bởi những phần lồi và mặt tiền) 25m. Phần vũ trang gồm đại pháo nhiều kích cỡ, bằng gang hoặc là bằng đồng, cùng với khá nhiều máy bắn đá. Có 12 tòa nhà, và ngoại trừ bốn, tất cả đều là mồi cho hỏa hoạn.
(Người dịch Nguyễn Minh Hoàng- Sun Yata)
Nguyên Văn:
P. S. Je vous donne, à la suite de ma lettre, la description de la citadelle de Bien-hoa, d'après un croquis fait par le service du génie du corps expéditionnaire.

La citadelle de Bien-hoa, située sur la rive gauche de la rivière du même nom, est un carré de 296 mètres de côté, présentant, au milieu de chaque face, une partie circulaire saillante destinée à flanquer les angles de l'ouvragc. Construite par les Annamites, vers 1789, d'après les plans du colonel Olivier, envoyé par Louis XVI, elle pouvait contenir une garnison d'environ quinze mille hommes. L'escarpe en maçonnerie de 4 mètres de hauteur, soutenant un rempart d'un faible profil, est précédée d'une berme de 8 mètres de largeur, en avant de laquelle se trouve un fossé de 2 mètres de profondeur et de 13 mètres de largeur. On passe le fossé au moyen de quatre ponts en pierre, dont les axes correspondent à ceux des parties circulaires de l'ouvrage, et l'on pénètre dans l'intérieur par quatre portes ou poternes situées à droite des ponts, à 25 mètres du rentrant formé par les parties arrondies et les faces. L'armement consistait en canons de divers calibres tant en fonte de fer qu'en bronze, et en une grande quantité de pierriers. Les bâtiments étaient au nombre de douze; ils ont, à l'exception de quatre, été la proie des flammes.
 A. Spooner.

Bản vẽ bình đồ Thành Biên Hòa xưa chồng lên vị trí tương đối trên bản đồ phường Quang Vinh Thành phố Biên Hòa


Trích trong: Thành Biên Hòa và các cơ sở thiết chế tín ngưỡng- Nguyên Phong Lê Ngọc Quốc (bản thảo)

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2017

THIÊN LÝ CÙ BIÊN HÒA- GIA ĐỊNH (P3)

BƯỚC CHÂN CHINH PHỤC ĐẤT PHƯƠNG NAM!

Có những khi trên đường thiên lý
trông trời nam, ta chợt thấy hãi hùng!
Trên đầu ta, trời rộng vô cùng,
và trước mặt, đất dài vô tận.
Mặc, rừng thiêng, nước độc, chông gai!
Ta vẫn bước với chân trần Giao Chỉ.
Tiếng cọp um, vượn gào cùng khỉ.
Ta bổng lo, ta bỗng thấy ngại ngùng!.. ( Tèo can-cook)


Biên Hòa vùng đất luôn hấp dẫn từ bao đời nay. Trên hơn 300 trước, lưu dân Việt, Chăm, Hoa... từng lớp, từng lớp đã lặng lẽ dứt ruột rời bỏ mái nhà, gia đình, gia hương, mồ mả ông bà tổ tiên...tiến về phương nam- miền đất Hứa ! Họ mong mỏi tạo dựng một cuộc sống tốt hơn cố hương, dành cho con cháu mai hậu một vùng đất mới, một cuộc sống sung túc, tươi đẹp!

Miền đất mới này có quá nhiều sông rạch, tất nhiên khi di chuyển trên thuyền bè sẽ thuận lợi hơn về tốc độ, thời gian , sức lực…nhưng từ những ngày ấy đa số lưu dân là bần nông từ xa đến, họ chỉ có đôi chân trần, cùng ý chí cang trường...Khi gặp được cuộc đất tốt, họ dừng chân, phá đất, lập làng; đoàn lưu dân tiếp sau cứ thế, mở đường tiến về phương nam. Theo dấu chân mở cõi, những con đường hình thành, nối các thôn làng với nhau, liên kết giao thương trao đổi, qua lại mua bán...


Con đường thiên lý ngày ấy từ Bình Thuận dinh đi Biên Hòa trấn, cũng chỉ là con đường đất, nối các làng mạc thưa vắng với các thị tứ nhỏ bé của Biên Hòa xưa (bao gồm cả tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu ngày nay). Hai bên đường là rừng rậm, bải lầy, trảng cát hoang vắng. Lúc này còn nhiều cọp, voi, thú dữ và cả thổ phỉ; cho nên, thường các bộ hành phải kết hợp, lập đoàn từ 7 ~ 8 người trở lên, trang bị vũ khí mới dám vượt qua.
Năm 1859 Vua Tự Đức thấy đường quan lộ các tỉnh từ Khánh Hòa trở vào Nam, rừng rậm, vắng không có người ở, các người đi đường qua lại, đã lo về việc đói khát, lại không có chỗ nghỉ đỗ. Vua sai các quan tỉnh lệnh cho các phủ huyện chiêu mộ nhân dân (không cứ dân nội tịch hay ngoại tịch) đều làm nhà ở ven đường, bán cơm nước, cấp tiền công cho mỗi nhà 20 quan, hoặc 15 quan, 3 năm người nào thành cơ chỉ, không phải trả tiền lại. Thuê dân phu sửa tước cây cỏ, san bằng chổ hiểm chổ cao, phái lính bắn ác thú, để cho tiện việc nhân dân đi lại
(Đại Nam thực lục, Đệ tứ kỷ- quyển XX, kỷ mùi Tự Đức năm thứ 12) Nguyễn Thông một quan lại nhà Nguyễn; trong một chuyến đi trên thiên lý cù, khi dừng chân trên đoạn giữa Long Thành và Bà Rịa, ông đã cảm tác:
Tiếng ve ra rả từ đâu ?
Lại thêm chiều tới dạt dào bi thương.
Chồn chân nghỉ lại ven đường,
Rừng sâu vắng vẻ bặt không dấu người.
Sương đêm rơi áo ướt vùi ,
À uôm tiếng cọp, rụng rời bước mau!
Nhớ ai xa thẳm thêm sầu ,
Bơ vơ nào biết về đâu bây giờ ?
(Long Thành- Phước Tuy đồ trung hoài cảm)












(Nguyễn Thông 阮通 (1827-1884) tự là Hy Phần, biệt hiệu Ðôn Am, người huyện Tân Thạnh (Gia Ðịnh). Năm 23 tuổi đậu cử nhân trường thi hương Gia Ðịnh (1849) được bổ làm huấn đạo huyện Phong Phú, tỉnh Gia Định. Năm 1859, quân Pháp đánh Gia Ðịnh, Ông giúp việc quân 2 năm. Sau hàng ước 1862, ông được bổ đốc học tỉnh Vĩnh Long. Năm 1867, Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây, Ông được bổ ra Trung. Nhân mắc bệnh, ông cáo quan về nghỉ, dựng nhà riêng gọi là Ngọa Du Sào, gần thị xã Phan Thiết cùng các bạn làm thơ ngâm vịnh.)

Ngoài thủy lộ giao thông có từ khi mở đất, sau một thời gian ổn định, triều đình chúa Nguyễn, đã mở thêm đường bộ thông thương giữa 2 dinh Trấn Biên và Phiên An, có lẽ căn bản dựa trên những con đường nhỏ nối các thôn làng từ trước.

“ Khi mới khai thác thì bắc đầu từ phía bắc Tất Kiều đến Bình Giang, ruộng ao sình lầy, đường bộ chưa đắp, hành khách muốn qua Biên Hòa hoặc lên Thủy Vọt đều phải đi đò dọc. đến đời Thế Tông năm thứ 11 Mậu Thìn (1748), nhân có việc Cao Miên cảnh báo, quan điều khiển Nguyễn Hữu Doãn mới đo đạc giăng dây làm đường thẳng, gặp chỗ có kinh ngòi thì bắc cầu, chỗ bùn lầy thì đắp đất và cây gỗ. Từ cửa Cấn Chỉ của thành đến bến đò Bình Đồng dài 17 dặm, bờ phía bắc là địa giới Biên Hòa có đặt trạm Bình Đồng, đi về phía bắc qua núi Châu Thới, đến bến đò Bình Tiên rồi qua bến Sa Giang (Rạch Cát- cù lao phố) do đường sứ Đồng Tràm xuống Đồng Môn thôn xuống Mô Xoài, ấy gọi là đường thiên lý. Trên đường này chỗ nào gặp sông lớn theo lệ có đặt đò qua, người chèo đò được miễn sưu dịch khác.
(Trích mục: Đường thiên lý- Trấn Phiên An- Thành trì chí- Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức)
Trước đó trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn có chép:
“ Miền ấy nhiều sông ngòi, đường thủy nhiều chằng chịt. Đường bộ không tiện. Người đi buôn đường thủy dùng thuyền to, tất phải mang theo cái thuyền nhỏ để tiện khi đi vào các sông ngòi nhỏ. Từ cửa sông cho đến đầu nguồn phải đi đến 6, 7 ngày, hết thảy đều là đồng ruộng, trông mông mênh bát ngát và bằng phẳng. Đất ấy giồng lúa rất tốt. Lúa nếp lúa tẻ đều trắng và mềm. 
(Phủ biên tạp lục, viết ở Gác Tiêu-Dương, thành Phú-Xuân. Cảnh-Hưng năm thứ 37 tháng 8 ngày rằm Bính Thân (1776). Quyển thứ VI- Thổ sản Nguời dịch : Ngô Lập Chí- Khoa Xã Hội- Truờng Đại Học Tổng Hợp Hà Nội- 1959)
Bản đồ năm 1862 của người Pháp, ta thấy có đoạn thiên lý cù từ chợ Bình Tiên (đối diện cù lao phố- Biên Hòa) đến Don Chai- Đồng Cháy (khoảng 15.679 m)
Phần 1: Thiên lý cù đoạn từ Trấn Biên đi bến Bình Đồng giáp ranh giới Phiên Trấn đầu thế kỷ 19 (trích Hoàng Việt Thống Nhất Dư Địa Chí- Lê Quang Định)
...Chợ thôn Bình Tiên, tục gọi là chợ Lò Giấy (nay là khu vực gần đồn công an phường Bửu Hòa- Biên Hòa), đi 150 tầm đến cầu xã Tân Bản ( cầu nay vẫn còn tên này), cầu dài 3 tầm…cầu Ba ván dài 2 tầm+1.033 tầm+ 500 tầm thì đến núi Châu Thới, núi ở bên trái đường đi+ 3.489 tầm thì đến cầu Suối Nhum, cầu dài 5 tầm+ 780 tầm thì đến điếm thôn Bình Đất Thượng, tục gọi là Quán mít + 2.400 tầm đến ngã ba điếm Đồng Cháy+ 229 tầm
Đến bến đò Đồng Cháy, sông rộng 110 tầm, đến đầu địa giới dinh Phiên Trấn.
Tổng cộng đoạn này hết 8.591 tầm, theo cách tính 1 tầm = 1.825m thì ta có đoạn này dài (8.591x 1.825m) Tổng = 15.679m.

Dựa trên bản đồ google map :
Tổng= 15.210 m.
Từ đồn công an phường Bửu Hòa, đi hướng Tây Nam về phía Bùi Hữu Nghĩa/ ĐT16 :40m
Rẽ trái tại nem nướng Hồng Hoa vào Bùi Hữu Nghĩa/ ĐT16: 10m
Rẽ phải tại Nem Nướng Hồng Hoa về hướngNguyễn Tri Phương/ ĐH11 :300m
Rẽ phải tại Trường mẫu giáo Bửu Hòa vào Nguyễn Tri Phương/ ĐH11, băng qua Clb Bida 298 (ở bên phải cách 77 m) :1.400m
Băng qua Cửa Hàng Sắt Thép Đình Trình (ở bên trái cách 24 m)
Tại vòng xuyến, đi theo lối ra thứ 1 vào Quốc lộ 1K/ Xa lộ Hà Nội: 4.300 m
Chếch sang trái tại Dịch Vụ Cầm Đồ An Khang vàoBảo vệ tuyến ống nước thô: 1.300m
Rẽ trái về hướng Bảo vệ tuyến ống nước thô: 36 m
Rẽ phải về hướng Bảo vệ tuyến ống nước thô: 9 m
Rẽ phải về hướng Bảo vệ tuyến ống nước thô: 35m
Rẽ trái vào Bảo vệ tuyến ống nước thô: 1.400m
Rẽ trái tại Đức An Paper Power Unit vào Xa lộ Đại Hàn/ QL1A: 230 m
Rẽ phải tại Cơ Sở Thuận Hưng vào Lê Văn Chí
Băng qua Tiệm Sửa Xe Quốc Thống (ở bên phải cách 27 m): 2.400m
Tại Cửa Hàng Điện Cơ Năm Hữu, tiếp tục vàoNguyễn Văn Bá, băng qua Công Ty TNHH Xây Dựng Rạng Đông - Cn (ở bên trái cách 42 m): 2.900m
Rẽ phải vào Nhà Máy Điện Thủ Đức/Số 1
400 m đến đường Số 1, 450 m thì đến bờ sông Sài Gòn (bến đò Đồng Cháy xưa)
Tổng= 15.210 m.
So sánh hai số liệu đo đạc hai con đường:
năm 1806 = 15.679 m

năm 2016 = 15.210 m
Ta thấy chênh lệch 479 m...

Phần 2 : Thiên lý cù đoạn từ bến Bình Đồng ranh giới Trấn Biên đi đến chợ Thị Nghè đầu thế kỷ 19. (trích Hoàng Việt Thống Nhất Dư Địa Chí- Lê Quang Định)

(Còn tiếp)


Trích trong: Thành Biên Hòa và các cơ sở thiết chế tín ngưỡng- Thiên Lý Cù- Nguyên Phong Lê Ngọc Quốc (bản thảo)
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
(1) Gia Định thành thông chí- Trịnh Hoài Đức- Hậu Học Song Hào Lý Việt Dũng dịch và chú thích- NXB Đồng Nai 2006.
(2) Hoàng Việt thống nhất dư địa chí- Lê Quang Định
(3) Đại Nam Thực Lục- Quốc sử quán
(4) Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn Biên Hòa- Nguyễn Đình Đầu.
(5) Đại nam Quốc Lược Sử- Alfred Schreinr, Sài Gòn 1906
(6) Khâm định đại nam hội điển sự lệ-Nội các triều Nguyễn.
(7) Đại Nam nhất thống chí- Nội các triều Nguyễn.
(8) Biên Hòa sử lược toàn biên- Lương Văn Lựu.
(9) 85 sắc phong ở Miếu công thần tại Vĩnh Long.Thư viện khoa học tổng hợp Tp HCM 2013.
(10) 290 năm (1715- 2005) Văn Miếu Trấn Biên- Thành Ủy, UBND Thành phố Biên Hòa
(11) Đại Nam Thực Lục, Quốc Sử Quán Triều Nguyễn
(12) Minh Mệnh Chính Yếu, Quốc Sử Quán Triều Nguyễn.
(13) http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k62202176.item
(14) Việt Nam phong tục – Phan Kế Bính.
(15) Việt điện u linh tập- Lý Kế Xương.
(16) Nghi và văn cúng chữ Hán ở thành phố Biên Hòa, Bảo Tàng Đồng Nai, nhà xuất bản Đồng Nai, 2013- Hậu học song hào Lý Việt Dũng dịch và chú thích-
(17) Cơ sở tín ngưỡng và truyền thống ở Biên Hòa, Phan Đình Dũng
(18) Người Pháp và người Annam, bạn hay thù- Philipe Devillers- Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.
(19) Hồ sơ khoa học di tích lịch sử- kiến trúc nghệ thuật thành phố Biên Hòa- Ban di tích thành phố Biên Hòa.
(20) Lịch sử cuộc viễn chinh nam kỳ năm 1861-Le1opold Pallu, Hoàng Phong dịch và bình- Nhà xuất bản Phương Đông 2008
(21) tuần báo Le Monde Illustré của Pháp, số 254 năm thứ 6, ra ngày 22/02/1862
(22) Lý lịch sự vụ, nguyên tác Nguyễn Đức Xuyên, dịch và khảo chú: Trần Đại Vinh- Tạp chí nghiên cứu và phát triển số 6(123) và số 7(124) năm 2015
(23) Một số tài liệu trên internet và tư liệu điền dã
(24) http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k62202176.item
(25) https://www.delcampe.net/fr/collections/cartes/autres/carte-lever-de-la-place-de-bien-hoa-et-de-ses-environs-363149798.html

....


































Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2017

ĐÀN XÃ TẮC - THÀNH CỔ BIÊN HÒA !

Đàn Xã Tắc Thành Biên Hòa đước đánh dấu số 1 trong bản đồ năm 1862.
Năm 1832, Vua Minh Mạng ra chỉ dụ: Ở các địa phương từ xưa đến nay chưa đặt đàn Xã Tắc, nay chuẩn cho bộ Lễ bàn bạc, thi hành xây dựng với mục đích là cầu phúc cho nhân dân. Bộ Lễ đề nghị và vua Minh Mạng chuẩn y phương cách xây dựng cho các địa phương trong cả nước . Các địa phương chọn một khu đất rộng rãi, ở phía tây bên ngoài tỉnh thành ( bên phải cổng chính của lỵ sở Tỉnh); xây đàn Xã Tắc hai thành. Mỗi năm tế hai kỳ xuân- thu. Vật tế lễ gồm 1 trâu, 1 heo, quả phẩm và xôi đều 6 mâm ( từ năm 1835 trở về sau thì chỉ dụ xôi dùng gạo nếp thu hoạch ở ruộng tịch điền làm lệ vĩnh viễn. Đến kỳ tế, quan tỉnh phải chay sạch trước, đến ngày, vào khắc đầu canh năm, viên hữu tư bày biện đồ tế lễ phẩm ở đàn sở. Đàn đặt 2 bộ bài vị bằng giấy, bài vị thần đàn Xã đặt bên phải, bài vị thần Tắc đặt bên trái. Trước đàn đặt sắp hạng, cờ, giáo, và các thớt Voi cho nghiêm chỉnh, quan tỉnh cùng quan lại sở tại, đều mặt lễ phục làm lễ, cho đặt 10 dân địa phương để luôn chăm nom Đàn.

Đàn Xã Tắc, là một trong các loại đàn tế cổ xưa của Trung Quốc, đàn Xã Tắc là nơi được lập để tế Xã thần (Thần Đất 社) và Tắc thần (tức Thần Nông 稷) - hai vị thần của nền văn minh lúa nước. Người xưa quan niệm, dân chúng cần có đất ở, nên lập nền Xã để tế thần hậu thổ, lại cần có lúa ăn, nên lập nền Tắc để tế thần nông. Nếu để nước mất thì sẽ mất Xã Tắc, nên Xã Tắc cũng có nghĩa là đất nước, tổ quốc; Chính vì quan niệm như thế, nên từ xa xưa, các triều đại Trung Hoa, và Việt Nam đàn Xã Tắc có vị trí vô cùng quan trọng, thiêng liêng; nên việc lập đàn, tế lễ luôn được coi trọng giữ gìn, ước mong dân giàu nước mạnh, mãi mãi trường tồn.

Khi vua Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi và định đô ở Hoa Lư năm (968) cho xây dựng cung điện, ra định chế nghi lễ triều đình, sách lập quan chức, và cho xây đàn Xã Tắc.

Năm 1048, thời vua Lý Thái Tông đóng đô ở Thăng Long (Hà Nội) đàn Xã Tắc đã được xây đắp.

Đàn phải được xây dựng tại địa điểm không gian thoáng đãng, cảnh vật hoàn toàn thanh tịnh, sạch sẽ.
Khi một vương triều phong kiến bị thay đổi thì đàn Xã Tắc của triều đại trước cũng bị xóa bỏ và triều đại sau sẽ tìm địa điểm mới. Thời nhà Ngô lập đàn ở Sơn Tây, nhà Đinh lập đàn ở Hoa Lư, thời nhà Lý lập đàn ở Thăng Long, Hà Nội, thời nhà Trần lập đàn ở Thiên Trường, Nam Định, thời nhà Hồ lập đàn ở Thanh Hóa, thời Tây Sơn (1788- 1801) lấy chùa Thiên Mụ- Huế làm nền đàn Xã Tắc, thời nhà Nguyễn lập đàn ở Huế ( phường Thuận Hòa).
Các triều đại sau luôn phế bỏ quyền thống trị của triều đại trước và đương nhiên cũng phế bỏ long mạch, linh khí liên quan đến, Đàn Xã Tắc của triều đại trước, rồi dựng nên tín ngưỡng cho triều đại mình.

Năm 1806 vua Gia Long cho lập đàn Xã Tắc bên trong Kinh thành Huế; hàng năm xuân thu hai kỳ nhà vua thường đích thân làm lễ cầu thần đất và thần lúa cho mùa màng tốt tươi, quốc thái dân an.

Biên Hòa vốn là đất địa đầu của nam bộ, là nơi được xác lập hành chánh đầu tiên của vùng đất mới phương nam; nơi lập Biên Trấn trông coi công cuộc di dân, khai hoang lập ấp, mở mang bờ cõi. Vì thế khi chỉ dụ Minh Mạng năm 1832 vừa ban hành thì Biên Hòa cũng là một trong số các địa phương vâng lệnh, cho đắp đàn Xã Tắc ngay trong năm ấy. Quy mô kiểu dáng, phương hướng đều theo hội điển do triều đình quy định.

Công việc này do quan đứng đầu tỉnh lúc bấy giờ là Võ Quýnh tuần phủ kiêm bố chánh thực hiện. Xây dựng tại phía tây tỉnh thành, thuộc địa phân thôn Bình Thành, huyện Phước Chánh, thờ thần Xã Tắc bổn tỉnh (bên phải cổng thành hướng nam- hiện nay là khu vực cuối đường cách mạng tháng tám, gần hẻm 291 chùa Bửu Sơn ( chùa một cột).

Đàn được đắp đất sét sạch, nguyên liệu lấy từ các xã huyện trong toàn tỉnh (Lúc ấy Biên Hòa bao gồm cả các vùng : một phần Bình Phước, Bình Dương, Thủ Đức, Thủ Thiêm, Bà Rịa Vũng Tàu). Đàn xây trên nền đất cao, rộng thoáng hình vuông có hai tầng:

Tầng trên chu vi khoảng 17m, thành cao khoảng 0,45m sơn màu vàng, mặt nền Đàn tế sơn 5 màu ở 5 phương vị: chính giữa màu vàng, đông xanh, tây trắng, nam đỏ, bắc đen.

Ở giữa có 2 am : bên phải thờ bài vị của thần Xã (thần đất), bên trái thờ bài vị của thần Tắc (thần lúa). Trên nền có bệ đá khoét lỗ để cắm tàn, lọng dù.

Tầng dưới chu vi khoảng 120m, cao khoảng 0.85m sơn màu đỏ. Mặt trước hai bên có bệ đá có đục lỗ để cắm tàn, lọng dù. Chung quanh có lan can và trụ bằng đá. Phía bắc trổ Phượng Môn (hướng về kinh đô- Vua), đông- tây- nam thì dựng cửa thường. Trước đàn cách đường lộ, có hồ đá vuông làm minh đường. (50 năm trước còn dấu vết trong hẻm 291- khu quán lẩu tôm năm Ri, nay nhà dân xây dựng đã mất dấu)

Vì là nơi tế lễ quan trọng bậc nhất tỉnh, nên triều đình nhà Nguyễn chỉ dụ cho quan đầu tỉnh phải làm chủ tế. Vị quan đầu tỉnh phải trai giới, tinh khiết, giữ thân sạch sẽ trước ngày vào lễ. Ngày chánh lễ, gần giờ Tý, chủ tế quan phục, cân đai, mũ mão, xiêm áo, tề chỉnh; đi cáng từ Thành Biên Hòa đến Đàn. Đoàn rước lễ đi theo thứ tự dưới ánh đuốc sáng trưng, và đèn đinh- điệu (?) chập chờn.

Văn võ quan lại, binh lính trang phục nghiêm chỉnh. Đoàn binh lễ mang chiêng trống, tàn lọng, cờ đuôi nheo năm sắc, 28 lá cờ nhị thập bát tú. Đội quân nhạc: loa kèn, đội ngũ lôi, cổ nhạc. Voi, ngựa cũng đeo chuông, yên, bành màu sắc rực rỡ. Ngoài ra cũng có một kiệu gỗ chạm rồng ( long đình) sơn son thếp vàng để sắc chỉ, vật quí giá, ngọc, lụa…để tế.

Đoàn xuất hành từ hướng cửa bắc (nay là hướng đường Phan Đình Phùng đi đường Nguyễn Ái Quốc, rẽ trái xuống đường Hồ Văn Đại đến giáp đường CMT 8); Lối đi lên Đàn ở từng dưới chia là 3 phần:  chính giữa giành cho “Thần” đi, chủ tế, quan viên thì đi 2 bên. Xong đến tầng trên, làm lễ đốt một con nghé (phần sài), và chôn một ít lông và máu của con vật hiến tế (Ế mao). Khi quan viên trợ tế xướng lệnh “Đăng đàn”; chủ tế nghiêm chỉnh bước lên Đàn chánh. Các quan tuần phủ, bố chánh, án sát, thành thủ, đề lại, thông lại, thơ lại…Cùng bước theo vào theo hướng hai bên bệ cấp trái, phải. Các nghi và văn cúng tương tự như nghi lễ trong các hội cúng đình nam bộ ngày nay. Có đội lễ sinh hang chục người múa và đọc chúc văn- khấn nguyện. Lễ tất, các thực phẩm chia cho các quan lại theo phẩm tước. Quan chủ tế cũng có phần riêng, là ly rượu (phúc tữu) và miếng thịt (tri phúc tợ). Sau đó đoàn tế lễ trở về Thành Biên Hòa cũng theo con đường cũ, trong tiếng kèn, trống nhạc rộn rã!

Ngày nay cũng như nhiều tỉnh trong cả nước, Đàn Xã Tắc Biên Hòa đã không còn nữa, dấu tích chỉ còn được ghi chép trong sử sách ( Huế đã phục dựng). Lễ tế Thần xã tắc là hình thức tín ngưỡng lâu đời của cư dân nông nghiệp; Đàn thờ Đất và Ngũ Cốc . Đất sinh ra cây trái, ngũ cốc để nuôi sống con người nên được coi là bậc Thần linh có sức sống mãnh liệt. Con người phải nhờ đất mà ở, nhờ thóc để ăn, nên ngày xưa từ thiên tử cho đến thần dân đều coi trọng tế Thần Xã Tắc. Hai chữ xã tắc còn tượng trưng cho đất nước. Xã Tắc còn nước còn, Xã Tắc mất thì nước mất.

Văn cúng, văn tế hán nôm và các nghi thức, nhạc lễ hiện nay ở các đình miếu nam bộ có thể có nguồn gốc từ lễ tế Xã Tắc. Ngày nay tại các cơ sở văn hóa dân gian này, nó được phục dựng, phát huy mạnh mẽ góp phần gìn bản sắc văn hóa dân gian!

Biên Hòa 02/10/2016
Đàn Xã Tắc – Huế (mới phục dựng)
Tam Sanh (ảnh tư liệu tham khảo)

Lễ tế Nam Giao Huế
Lễ tế Nam Giao Huế

Bia cổ "Thái Xã Chi Thần" ở Huế

Di tích đàn Xã Tắc Thăng Long- Hà Nội


TÀI LIỆU THAM KHẢO:

(1) Gia Định thành thông chí- Trịnh Hoài Đức

(2) Hoàng Việt thống nhất dư địa chí- Lê Quang Định

(3) Đại Nam Thực Lục- Quốc sử quán

(4) Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn Biên Hòa- Nguyễn Đình Đầu.

(5) Đại nam Quốc Lược Sử- Alfred Schreinr, Sài Gòn 1906

(6) Khâm định đại nam hội điển sự lệ-Nội các triều Nguyễn.

(7) Đại Nam nhất thống chí- Nội các triều Nguyễn.

(8) Biên Hòa sử lược toàn biên- Lương Văn Lựu.

(9) 85 sắc phong ở Miếu công thần tại Vĩnh Long.Thư viện khoa học tổng hợp Tp HCM 2013.

(10) 290 năm (1715- 2005) Văn Miếu Trấn Biên- Thành Ủy, UBND Thành phố Biên Hòa

(11) Đại Nam Thực Lục, Quốc Sử Quán Triều Nguyễn

(12) Minh Mệnh Chính Yếu, Quốc Sử Quán Triều Nguyễn.

(13) Việt Nam phong tục – Phan Kế Bính.

(14) Việt điện u linh tập- Lý Kế Xương.

(15) Văn cúng- văn tế hán nôm ở Đồng Nai, Bảo Tàng Đồng Nai

(16) Cơ sở tín ngưỡng và truyền thống ở Biên Hòa, Phan Đình Dũng

(17) Theo Đàn xã tắc Thăng Long của Tiến sĩ Vũ Thế Khanh.

(18) Một số tài liệu trên internet và tư liệu điền dã