Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026

 GIẢ THUYẾT VỀ NGUỒN GỐC ĐỊA DANH “ĐỒNG NAI” NAM BỘ:

DẤU TÍCH KÝ ỨC CỐ HƯƠNG TỪ VÙNG VÂN PHONG – NHA-RU- KHÁNH HÒA?

Lê Ngọc Quốc [1]

Dẫn nhập 

Địa danh Đồng Nai- Vũng Nhà Ru (vịnh Vân Phong)

An Nam Đại Quốc họa đồ của linh mục Taberd 1838

Trong nghiên cứu địa danh học Nam Bộ, tên gọi “Đồng Nai” thường được mặc nhiên gắn với miền Đông Nam Bộ, đặc biệt là lưu vực sông Đồng Nai – Biên Hòa. Tuy nhiên, nhiều tư liệu thế kỷ 18-19 cho thấy đã từng tồn tại một địa danh khác mang tên “Dou-nai / Đồng nai / 仝狔” ở vùng ven biển cực bắc Khánh Hòa – nam Phú Yên, quanh khu vực vịnh Vân Phong – Đại Lãnh ngày nay.

Trong lịch sử Nam tiến của dân tộc Việt Nam, mỗi cuộc di dân không chỉ mang theo con người, gia sản và tín ngưỡng, mà còn mang theo ký ức quê hương. Một trong những biểu hiện rõ nhất của ký ức ấy là hiện tượng “mang tên làng cũ đặt cho vùng đất mới”. Đây là hiện tượng phổ biến trong lịch sử di dân thế giới cũng như ở Việt Nam; có nhà thơ đã cảm khái rằng:

…”Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói

Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân...” [1]

Từ nhận xét ấy, kết hợp với các tư liệu địa danh học và truyền giáo của Hội Thừa sai Paris, và sử liệu triều Nguyễn, chúng ta có thể đặt ra một giả thuyết đáng chú ý:

ü  Địa danh “Đồng Nai” ở Nam Bộ có thể đã chịu ảnh hưởng ký ức địa danh hoặc củng cố bởi lớp lưu dân gốc Khánh Hòa – vịnh Vân Phong, vốn mang theo ký ức về một địa danh cổ “Dou-nai / Đồng Nai” đã tồn tại từ trước ở miền Trung.

Bài viết này thử khảo chứng giả thuyết ấy.

I.              Sự tồn tại của một “Đồng Nai” cổ ở miền Trung

Địa danh này xuất hiện liên tục trong:

  • thư từ của các giáo sĩ Hội Thừa sai Paris (MEP),
  • địa chí triều Nguyễn,
  • bản đồ của Jean-Louis Taberd,
  • bản đồ truyền giáo của Adrien Launay.

Sự lặp lại liên tục trong hơn một thế kỷ cho phép khẳng định rằng đây không phải lỗi chép hay sự nhầm lẫn với Đồng Nai nam bộ, mà là một địa danh lịch sử độc lập thuộc hành lang ven biển Vân Phong – Đại Lãnh (Kháng Hòa).

Trong nhiều tài liệu, thư từ của các giáo sĩ Hội Thừa sai Paris (MEP) [2] thế kỷ 17- 18, xuất hiện liên tục một chuỗi địa danh ven biển miền Trung:

  • Nha-ru
  • Dou-nai
  • Nha-tlang

Các địa danh này đều nằm trong hành lang Khánh Hòa – Phú Yên ngày nay.

Đặc biệt, trong các bản đồ:

  • Carte de la Cochinchine (1786), [3]
  • An Nam Đại Quốc Họa Đồ của Taberd (1838),[4]
  • Bản đồ Les Missions Catholiques dans l’Indo-Chine Française của linh mục Adrien Launay (1889),[5]

đều xuất hiện địa danh: Don-nai / Đồng-nai

1. Tư liệu truyền giáo thế kỷ 17- 18.

Nguồn tư liệu quan trọng nhất là bộ: “Lịch sử phái bộ truyền giáo Đàng Trong”

Do linh mục Adrien Launay sưu tập và xuất bản từ tư liệu gốc của Hội Thừa sai Paris.

Đặc biệt về địa danh Dou-Nai ở Bắc Khánh Hòa tài liệu ghi:

Dịch nghĩa: “Tại Nha-ru và Nha-trang

Tôi vừa đi được hai dặm thì bị ốm nặng; tuy nhiên, tôi vẫn đến được Dou-nai, nhà thờ gần nhất; nhưng tôi bị sốt, và không thể cử hành Thánh lễ vào ngày hôm sau. Lo sợ bệnh tình sẽ nặng thêm, tôi đã được khiêng bằng võng đến nhà thờ ở Nha-ru để được chăm sóc mà tôi sẽ không có được ở Dou-nai.” [6]

Chi tiết này chứng minh Dou-nai không chỉ là tên địa hình mà là:

  • một điểm cư trú có cộng đồng giáo dân,
  • có nhà thờ,
  • thuộc mạng lưới truyền giáo ven biển Trung Bộ.

Trong cùng văn cảnh, vị trí Dou-nai nằm giữa:

  • Nha-ru (vịnh Vân Phong)
  • Nha-tlang (Nha Trang)
  • vùng Ciam-pa (đất Chiêm Thành)

nên hoàn toàn không thể là Đồng Nai ở Nam Bộ.

2. “Nha-ru” và hành lang Vân Phong

Các thư truyền giáo mô tả:

  • Nha-ru cách Nha-tlang khoảng một ngày đường,
  • nằm trên tuyến đi Phú Yên,
  • gần vùng núi hiểm trở,
  • gần các vũng biển và đảo nhỏ.

Đến bản đồ An Nam Đại Quốc Họa Đồ năm 1838 của Jean-Louis Taberd, địa danh:

“Vũng nhà-ru”

được ghi rất rõ tại khu vực vịnh Vân Phong – Hòn Khói. Điều này xác nhận rằng:

Nha-ru là một địa danh ven biển thuộc vùng Vân Phong ngày nay.

Đồng thời, trên cùng bản đồ xuất hiện địa danh: “Đồng nai”

ở khu vực phía bắc Khánh Hòa, gần Cap Varella (Mũi Đại Lãnh). Như vậy, Nha-ru và Đồng Nai là hai địa danh kế cận trong cùng hành lang địa lý ven biển.

3. Tư liệu triều Nguyễn: Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí.

Nguồn tư liệu quyết định để định vị Đồng Nai cổ là:

皇越一統輿地志Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí  (1806) của Lê Quang Định.

Trong phần mô tả đường thiên lý thuộc dinh Bình Hòa, sách ghi:

  • 仝狔店 (Đồng Nai điếm)
  • 仝狔林路 (đường rừng Đồng Nai)
  •  [土竜]仝狔 (giồng Đồng Nai) [7] 

Trích: “..Trâm Hòa Huỳnh: đặt lính thường trực ở trạm gồm 17 suất.

 7.900 tầm đến trạm Hòa Mỹ.
395 tầm, là vùng bờ bãi, thuộc địa phận thôn Xuân Mỹ, phía đông là chân núi, tây có nhà cửa dân cư sinh sống, đến láng Củ Chi, láng dài 320 tầm, ngày xưa có cây mã tiền mọc ở đây nên mới gọi là Củ Chi, đến đường điếm Lễ Lâm, đường dài 600 tầm, phía bắc có cư dân thưa thớt, đất thích hợp với cây thuốc lá, thuốc xắt, mùa xuân hè thì trồng bông vải, thu đông thì trồng ngô, lúa gạo, đường toàn đá sỏi rất khó đi, tục gọi là Truông Sỏi, đến điếm Đồng Nai (
仝狔店), thuộc địa phận xã Xuân Sơn, tổng Trung, huyện Quảng Phước, ở điểm này có bán hàng điểm tâm, khách đi đường có thể nghỉ chân.
520 tầm, đường ở đây bằng phẳng, phía đông là chân núi, phía tây là ruộng, dân cư thưa thớt, đất này thích hợp với cây thuốc lá, mùa xuân hè thì trồng bông vải, thu đông trồng ngô, đến đường rừng Đồng Nai (
仝狔 林路). Đường dài 1.139 tầm, hai bên rừng là đồng ruộng, dân cư ở liền nhau, đất ở đây thích hợp với cây bông vải, ngô và thuốc lá. Thời xưa nơi đây dưới thì ruộng núi, lên trên thì hươu nai nên có tên là giồng Đồng Nai ([土竜]仝狔) , đến cầu Bàu Voi, thuộc địa phận thôn Mỹ Lộc, tổng Trung, huyện Quảng Phước. Cầu dài 7 tầm, bàu rộng 5 tầm, dài 200 tầm, trên không có nguồn, dưới không có nhánh, bốn mùa đều có nước, mùa xuân hè thì nước cạn, mùa thu đông do mưa lụt nên nước. sâu. Ngày xưa người ta dụ voi hoang về nuôi ở đây và cho tắm rửa ở bàu này…”

Hành trình này thuộc tuyến thiên lý dinh Bình Hòa (Khánh Hòa).

Đặc biệt, tài liệu giải thích nguồn gốc tên gọi:

“Thời xưa nơi đây dưới thì ruộng núi, lên trên thì hươu nai nên có tên là giồng Đồng Nai.”  Chi tiết này rất quan trọng vì:

1.    xác nhận “Đồng Nai” là địa danh địa phương thật;

2.    cho thấy vùng này thuộc địa hình bán sơn địa;

3.    liên hệ trực tiếp với môi trường rừng núi có nai hoang;

4.    đặt địa danh này vào đúng tuyến thiên lý Khánh Hòa – Phú Yên.

Các địa điểm đi kèm như:

  • Truông Sỏi,
  • Bàu Voi,
  • đèo núi hiểm trở,

đều phù hợp với khu vực Đại Lãnh – đèo Cả hiện nay.

Điều đó chứng minh rằng: tại vùng bắc Khánh Hòa đã từng tồn tại một địa danh lịch sử thật sự mang tên “Đồng Nai”.

4. Bản đồ Taberd 1838

Bản đồ: An Nam Đại Quốc Họa Đồ của linh mục Taberd là tư liệu bản đồ đầu tiên ghi rõ đồng thời:

  • “Vũng nhà-ru”
  • “Đồng nai”

trong cùng khu vực bắc Khánh Hòa.

Điều đáng chú ý là:

  • “Vũng nhà-ru” nằm gần Hòn Khói – Vân Phong;
  • “Đồng nai” nằm gần Cap Varella (Đại Lãnh).

Cách ghi này cho thấy:

  • Nhà-ru thiên về địa danh vũng biển;
  • Đồng Nai thiên về tuyến đường bộ – vùng nội địa ven chân núi.

Sự phân bố ấy phù hợp hoàn toàn với mô tả của Lê Quang Định và thư truyền giáo MEP.

5. Bản đồ truyền giáo của Adrien Launay (1889)

Tư liệu cuối cùng khẳng định sự tồn tại lâu dài của địa danh này là bản đồ:

Các phái đoàn truyền giáo Công giáo ở Đông Dương thuộc Pháp (1889)

Do linh mục Adrien Launay biên soạn. Trên bản đồ vùng Vân Phong – Đại Lãnh xuất hiện rõ: “Đồng-nai” ngay phía dưới Cap Varella.

Điều này rất quan trọng vì:

  • đây là bản đồ truyền giáo,
  • dựa trên tài liệu nội bộ của Hội Thừa sai Paris,
  • kế thừa trực tiếp truyền thống địa lý của các giáo sĩ thế kỷ 18.

Do đó, “Đồng-nai” ở đây phản ánh ký ức địa lý truyền giáo chứ không phải một nhầm lẫn hành chính.

 II. Gia tộc linh mục Laurent Emmanuel Huỳnh Văn Lâu và cuộc Nam tiến cuối thế kỷ 17.

Các nghiên cứu về linh mục người Việt: Laurent Emmanuel Huỳnh Văn Lâu (1660–1732) [8] cho biết:

  • gia tộc họ Huỳnh vốn gốc vùng Lâm Tuyền – Nha Trang;
  • có liên hệ mật thiết với vùng Nha-ru (vùng vịnh Vân Phong);
  • khoảng năm 1680 gia đình linh mục Huỳnh Văn Lâu đã di cư vào Nam khai phá vùng Đồng Nai.

Trong Histoire de la Mission de Cochinchine, Adrien Launay chép:

“Le père de notre P. Laurent, avec une partie de sa famille seulement, pénétra jusqu'en celle de Dou-nai, qui est frontière de Camboge là le bon et pacifique vieillard s'occupait, depuis environ 20 ans, de cultiver une cam-pagne qu'il avait défrichée.”[9]

Dịch nghĩa :

“Thân phụ của cha Laurent, cùng một số thành viên gia đình mình, đã di cư vào vùng Dou-nai, nơi giáp biên giới Cambodge (Cao Miên); tại đó, người lão ông hiền lành và chất phác ấy đã sống khoảng hai mươi năm [1680-1700] chuyên lo khai phá và canh tác một vùng đất mà ông đã tự tay vỡ hoang.”

Đoạn văn này phản ánh đúng hoàn cảnh lịch sử cuối thế kỷ XVII:

  • lưu dân miền Trung tiến vào vùng đất mới;
  • khai phá rừng hoang;
  • lập làng dọc lưu vực Đồng Nai;
  • mở rộng biên giới về phía Nam.

Điều đáng chú ý là:

·      những người đi mở cõi ấy lại xuất thân từ vùng có địa danh “Dou-nai” cổ ở Khánh Hòa.

III. “Mang theo tên làng cũ”: hiện tượng phổ biến trong lịch sử di dân

Trong lịch sử Việt Nam, việc lấy tên quê cũ đặt cho vùng đất mới là hiện tượng rất phổ biến.

Người di cư thường mang theo:

  • tên làng,
  • tên chợ,
  • tên sông,
  • tên phủ huyện,

để đặt cho nơi định cư mới. Đó không chỉ là cách đánh dấu lãnh thổ, mà còn là hành vi văn hóa nhằm bảo tồn ký ức cội nguồn.

Quê hương là chốn gắn bó thân thiết với mỗi con người. Đó không chỉ là nơi có mồ mả tổ tiên ông bà, mà còn là nơi ghi dấu những ký ức đẹp; là nơi mà tâm hồn và bản sắc văn hóa con người được nuôi dưỡng. Lấy địa danh cố hương để đặt tên cho nơi cư trú mới chính là để luôn nhắc nhở con cháu đời sau nhớ về gốc tích tổ tông; và nếu có dịp, sẽ quay về quê cũ để thỏa nỗi niềm khát khao cố hương mà lớp tiền nhân đã gạt nước mắt dứt áo ra đi.”[10]

Trong bối cảnh ấy, giả thuyết rằng:

·      Lưu dân Khánh Hòa đã mang theo địa danh “Đồng Nai” vào Nam Bộ

là điều hoàn toàn có thể xảy ra về mặt lịch sử – tâm lý – văn hóa.

IV. Những dữ kiện ủng hộ giả thuyết

1. Hai địa danh “Đồng Nai” cùng tồn tại trong tư liệu Hội Thừa sai Paris (MEP)

Các tài liệu truyền giáo thế kỷ cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18 [11] cho thấy:

  • Dou-nay (giáo điểm) thuộc provincia Nha-ru (miền Trung),
  • R. Dou-nai (giáo điểm) thuộc provincia Dou-nai (Nam Bộ)

được phân biệt rất rõ.

Điều này chứng minh rằng:

·      “Đồng Nai” không phải chỉ có một địa danh duy nhất trong lịch sử Việt Nam.

2. Dòng di dân Khánh Hòa – Đồng Nai là có thật

Gia đình linh mục Laurent Emmanuel Huỳnh Văn Lâu là trường hợp tiêu biểu:

  • quê gốc Nha-ru/ Nha Trang,
  • sau đó di cư vào Đồng Nai khai khẩn.

Điều này tạo nên mối liên hệ lịch sử trực tiếp giữa hai không gian địa lý cùng mang tên “Đồng Nai”.

3. Đồng Nai Nam Bộ thời kỳ đầu còn là vùng đất mới

Trong tài liệu của “Hội Thừa sai Hải Ngoại Paris MEP, Đồng Nai Nam Bộ được mô tả là:

  • frontière de Camboge (là ranh giới với Cao Miên),
  • vùng rừng khai phá,
  • đất mới canh tác.

Đây có thể là hoàn cảnh thuận lợi để lưu dân đặt tên mới theo ký ức quê cũ.

V. Một giả thuyết địa danh học cần được chú ý

Dĩ nhiên, địa danh “Đồng Nai” Nam Bộ từ lâu đã được giải thích theo nhiều hướng:

  • gốc Khmer,
  • gốc Mạ,
  • gốc Chơ Ro,
  • hay từ đặc điểm sinh thái “đồng có nai”.

Tuy nhiên, các tư liệu về “Dou-nai” miền Trung mở ra một khả năng khác:

“Đồng Nai” Nam Bộ có thể là kết quả của sự giao thoa giữa địa danh bản địa và ký ức địa danh của lưu dân miền Trung.

Nói cách khác:

  • vùng đất Nam Bộ có thể đã có tên bản địa riêng;
  • nhưng lớp lưu dân Việt gốc Khánh Hòa đã góp phần Việt hóa hoặc củng cố tên gọi “Đồng Nai” theo ký ức cố hương của họ.
  • ký ức địa danh Đồng Nai- Khánh Hòa có thể đã góp phần củng cố tên gọi Đồng Nai Nam Bộ.

VI. Kết luận

Các tư liệu truyền giáo, bản đồ cổ và địa chí triều Nguyễn cho thấy:

1.    từng tồn tại một địa danh “Dou-nai / Đồng Nai” ở vùng Vân Phong – Đại Lãnh (Khánh Hòa);

2.    nhiều lưu dân Khánh Hòa vào nữa cuối thế kỷ 17 đã di cư vào khai phá Nam Bộ;

3.    gia tộc linh mục Laurent Emmanuel Huỳnh Văn Lâu là một trường hợp tiêu biểu;

4.    trong lịch sử di dân Việt Nam, hiện tượng mang tên quê cũ đặt cho vùng đất mới là điều phổ biến.

Từ đó, có thể đặt ra một giả thuyết mới:

·      địa danh “Đồng Nai” Nam Bộ có thể mang dấu ấn ký ức cố hương của lớp lưu dân xuất thân từ vùng “Dou-nai- Đồng Nai” cổ ở Khánh Hòa.

Dẫu giả thuyết này cần thêm nhiều tư liệu khảo cổ, ngữ âm học và địa danh học để kiểm chứng, nhưng nó mở ra một hướng tiếp cận mới cho lịch sử Nam tiến:

ü  địa danh không chỉ là dấu hiệu hành chính, mà còn là ký ức văn hóa của những đoàn người ly hương đi mở đất phương Nam ./.



[1] "Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân" trích từ trường ca Mặt đường khát vọng- Đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm

[2] Adrien Launay (1923), Lịch sử phái bộ truyền giáo Cochinchina, Tài liệu lịch sử, Paris.

 [6] Adrien Launay (1923), Lịch sử phái bộ truyền giáo Cochinchina, Tài liệu lịch sử, tom II. Paris, trang 131

 [7]  Lê Quang Định  (1806)- Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, Nxb Thuận Hóa 2005. Dinh Bình Hòa. quyển hai trg 47.

 [8]  Linh mục Gioan Nguyễn Đình Đệ (2021)- Một danh nhân văn hóa bị lãng quên - Cha Laurent Emmanuel Huỳnh Văn Lâu (1660-1732). https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/mot-danh-nhan-van-hoa-bi-lang-quen-cha-laurent-emmanuel-huynh-van-lau-1660-1732--42705#_ftnref1

[9] Adrien Launay, Histoire de La Mission de Cochinchine, Documents historiques I, 1658-1728, Paris, 1923, p. 467.

(nội dung bản tường trình của linh mục Gouge về cuộc bách hại năm 1700 từ Phan Rí đến Nha-rou)

[10] Lê Ngọc Quốc (2018), Tập san Nam Bộ Đất & Người,  tập XIII, Hội KHLS Tp Hồ Chí Minh- Xứ Nhật Bản ở Nam bộ xưa. Nxb Đại Học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh. trang 812.

[11]  Adrien Launay, Histoire de La Mission de Cochinchine, Documents historiques II, 1658-1728, Paris, 1923, p. 190.

Viết nhân dịp thành lập “Thành Phố Đồng Nai”

Nguyên – Phong Lê Ngọc Quốc.


Địa danh Đồng Nai (vịnh Vân Phong- Khánh Hòa)

 Bản đồ của linh mục Adrien Launay- 1889

 Vùng Nha Ru và giáo điểm Nha ru (vịnh Vân Phong- Khánh Hòa),

vùng Don nai và giáo điểm Don nai (Đồng Nai) trên bản đồ 1786

Vùng Nha-ru và giáo điểm Dou-nay - vùng Dou-nai và giáo điểm R Dou-nai (Đồng Nai)

Adrien Launay, Histoire de La Mission de Cochinchine, Documents historiques II, 1658-1728, Paris, 1923, p. 190






Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét